Thursday, September 3, 2020

Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 10 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
  -Koong Sĩ & Cút Vương- 

10 - Chẳng-giống-ai

Lại hắn! Đúng là chẳng giống ai. Có người nói thế, nhiều người nói thế, vợ hắn cũng nói thế - giọng mặn chát Hải phòng (vợ hắn người Hải Phòng): “Đúng là chẳng giống ai. Nhưng nói cho mà nghe. Chẳng giống ai gái này mới đeo đuổi chứ giống ai thì gái này quơ đâu chẳng được!”

Hắn khoái. Dù đó là lời khen hay tiếng chê thì hắn cũng thấy cái chẳng-giống-ai của hắn gợi trong đầu hắn cái ý nghĩ hắn vẫn là hắn, cái tôi của hắn còn đấy, chưa mất nên hắn không phải đi tìm như một ông nhà văn nào đó. Hắn chợt nhớ đến câu chuyện hắn không nhớ đã đọc thấy ở đâu. Cái nhớ, cái không nhớ cứ đan quện vào nhau chẳng biết khi nào nhớ khi nào không nhớ. Nhớ đấy mà không nhớ đấy, không nhớ đấy mà nhớ đấy...!

Tại viện bảo tàng Luân Đôn, Anh Quốc, có tàng trữ một miếng thạch cao hơn 3,800 tuổi, ghi dấu vào thời đó đã có một cuộc đếm người mà ngày nay người ta gọi là kiểm kê nhân số. Hai đế quốc La mã và Ai cập ngày xưa cũng thực hiện những cuộc đếm người để đánh thuế, và cuộc đếm người đầu tiên được thực hiện trên đất Mỹ là vào năm 1790.

Từ những cuộc đếm người như thế, và nhờ vào khả năng điện toán vô biên ngày nay, có người đã tẩn mẩn suy tìm ra nhiều điều thích thú hướng sâu vào tương lai. Chẳng hạn, nếu mức sinh sản của con người trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì đến năm 3530 cái khối thịt người, nén lại, sẽ to bằng trái đất, và đến năm 6826 khối thịt người này sẽ nêm chật cái vũ trụ mà các nhà bác học đã khám phá được. Còn nữa, tổng số người trên toàn thế giới vào thời Julius Caesar là 150 triệu, bây giờ 150 triệu là tổng số người gia tăng trong 2 năm, và sau khi đọc xong bài viết này, khoảng 2 phút, thì đã có 200 người chết và 480 người mới sinh ra!

Theo sự tính toán tẩn mẩn của các người nói trên thì từ ngày loài người có mặt trên trái đất đến nay đã có khoảng 60 tỷ người được sinh ra. Trong 60 tỷ đó người ta không tìm được 2 người giống nhau, và họ tin rằng trong hàng tỷ tỷ người sẽ sinh ra sau này cũng không thể tìm được người nào giống người nào.

Vậy thì… nếu không may (hay may mắn?) mình chẳng giống ai thì cũng chỉ là một điều tự nhiên thôi! Vào đầu năm 2.000, người ta nói nhiều về ngày tận thế. Cũng vào dịp này, tình cờ hắn đọc thấy một câu viết ở đâu đó: “Ngày tận thế chính là ngày mọi người đều suy nghĩ như nhau.” Nghe cũng có lý đấy chứ! Vậy thì... hãy yên tâm, thế giới chưa tận thế vì con người chưa suy nghĩ như nhau!

Sau biến cố Tết Mậu Thân hắn đưa gia đình vào cư ngụ trong căn cứ KQ Tân Sơn Nhất. Cư xá gồm những dãy nhà dài, có 8 căn phòng và một căn ở giữa là nhà vệ sinh. Theo chức vụ, cấp bậc cũng như tình trạng gia đình của hắn, hắn được cấp nửa dãy, nhưng khi ấy có nhiều người cũng muốn đưa gia đình vào căn cứ mà cư xá không đủ nhà để cung cấp nên hắn tự nguyện nhường cho một gia đình một nửa cái phần nửa của hắn.

Thế rồi, cứ 3 năm vợ hắn sanh một đứa con và sau cùng hắn phải cất thêm một căn trái ở đầu dãy. Thấy hắn tay đinh tay búa, leo trèo lên xuống vợ hắn ngậm ngùi: "Đúng là chẳng giống ai, nhường cho người ta để rồi bây giờ oằn lưng ra đóng kèo dựng cột...!"

Nói đến KQ thì không thể không nói đến mạt chược, đó là dịp để mấy chàng "hào hoa" mân mê xoa vuốt mấy quân bài, vừa đấu láo với nhau, vừa thử vận hên xui, hay kiếm tí tiền cà phê, cà pháo, trong khi chờ thi hành phi vụ hoặc sau những phi vụ trờ về. Cách vài gia đình lại có một gia đình có bàn mạt chược, bàn ghế sẵn đó, quân bài sẵn đó... Ai cũng có thể rủ nhau ghé xoa bất cứ khi nào, nhiều khi người chầu rìa đông hơn cả người xoa, tranh nhau đi "đái giải đen" cho đứa này đứa nọ.



Hắn cũng thích xoa mạt chược, mê là đằng khác. Những khi rảnh rỗi thế nào hắn cũng kiếm cách mò đến bàn mạt chược. Có lần hắn đến thì thấy tay chân đã đủ bộ, hắn vỗ vai một anh chàng đang xoa, năn nỉ: “Thèm quá, nhường cho tao vài gió, bàn nào thắng tao chia cho một nửa, bàn nào thua tao chịu hết”.

Ấy vậy mà khi đứng dậy hắn không thua! Thế là, có người gắn vào ngực hắn cái tên "Koong Sĩ"! Koong Sĩ tức cảnh sinh tình... làm thơ !

Tự Kiểm
Xuống chó lên voi cũng bởi tiền
Tối ngày xuôi nguợc chạy như điên
Ăn non ù cáy thì không chịu
Tham mủn koong khung để bị nghiền
Thân xác điêu tàn trơ củ ráy
Mặt mày trau chuốt tuởng anh hiền
Giang sơn còn đuợc hai cùi trỏ
Nếu có ai mua cũng bán liền ! 

Có một thời mấy chú ba tàu ở Chợ lớn tung ra phong trào nuôi chim cút,“người người nuôi cút, nhà nhà nuôi cút”. Các chú dụ khị người ta nuôi cút, cho người đi mua vài con với giá cắt cổ để giữ giá rồi bán ra hàng ngàn con kiếm lời. Một con cút khi vặt trụi lông chỉ bằng ngón chân cái mà có khi giá lên tới 5, 10 ngàn đồng một cặp. Hắn cũng bị lôi cuốn vào phong trào nhưng chỉ làm một cái lồng nhỏ, nuôi vài cặp cút để xem chúng… đấm đá nhau, trèo leo lên nhau và đẻ trứng.


Bất ngờ, một anh chàng phi công Air Vietnam mang đến nhà hắn 500 con cút chở lậu từ HongKong về: “Tao không có chỗ nuôi, bán rẻ cho mày”. Hắn bốc đồng, mua. Hắn tống mấy đứa con lên ngủ tại phòng khách để lấy phòng nhốt lũ cút.

Chưa kịp tính toán gì thì mấy chú ba Chợ Lớn đến gạ mua vài cặp với giá 5.000 đồng một cặp. Hắn nói với mấy chú ba nếu mua hết hắn sẽ bán với giá 2.000 đồng một cặp thôi. Tính ra, nếu bán 2.000 đồng một cặp hắn cũng lời gần nửa triệu đồng rồi. Chẳng biết mấy chú ba bị ma dẫn lối hay quỷ đưa đường sao đó, móc túi trả tiền mua hết. Hắn phải mượn xe Cadilac của một người bạn, giúp chở cút cho các chú nhiều lượt để hoàn tất việc mua bán trong nội buổi chiều vì sợ các chú đổi ý.

Chỉ 2 ngày sau, giá một cặp cút không còn đáng vài cắc mà cũng không có ai mua nữa. Người ta thi nhau vặt lông cút nướng thịt, có người đào hố chôn cút, không dám thả vì sợ chúng bay vào quấy rầy nhà hàng xóm. Thế là, bà con trong xóm gắn vào ngực hắn cái tên “Cút Vương”!

Năm 1975 Cút Vương ra nước ngoài tỵ nạn, bỏ lại đằng sau quê hương yêu dấu của mình vì nơi đó đã bị người lạ cưỡng đoạt, không còn là nơi để có thể dung thận. Nhìn vào một khía cạnh cuộc sống của những người tỵ nạn, Cút Vương tức cảnh sinh tình... làm thơ!

Tiên trên trần
In-lít (English) chữ nghĩa lơ mơ
Thì ta làm ách-săm-lơ (assembler) cho rồi
Hay là lãnh chức bết-bồi (bus boy)
Ở đời chẳng có nghề tồi dóp (job) sang
Cũng hôm (home) cũng xế đàng hoàng
Cũng tiền bô-nết (bonus) cũng nhàn như ai
Vác-kê-sân (vacation) nghỉ lai rai
Ố-vơ-tem (overtime) lãnh gần hai ngày thuờng
Quít-ken (week end) lại bát phố phuờng
Sóp-binh (shopping) mua sắm chật rương chật nhà
Tiến băng (bank) viết chéc (check) mua quà
Dạt-Linh (Darling) thân tặng nọ là thiệt hơn
Quynh-tơ (winter) thì kéo lên non
Ếch-ki (ski) lượn cũng trông ngon quá chừng
Sôm-mơ (summer) nghỉ mát trên rừng
Bạc-bờ-kiu (barbecue) đó tưng bừng một phen
Bớt lai (Bud light) quen vị môi mềm
Ba hoa tán dóc (joke) cho quên sự đời
Tan-ninh (tanning) ở biển tuyệt vời
Cho xì-kin (skin) có chút hơi nghỉ hè
Sơm-tem (sometime) ra vẻ màu mè
Đăng-xinh (dancing) lả luớt bạn bè cho vui
Phút (food) ngon lạ miệng nhớ mùi
Buốc-gơ (burger) hót-đót (hot dog) ôi thôi thiếu gì
Lễ lạc tổ chức bạt-ti (party)
Hay là bót-lót (pot luck) có đi có về
Lô-tô (lotto) xập xám đề huề
Ti-vi (TV) phim chuởng đỡ mê đỡ ghiền
Hai tuần bê-chéc (pay check) phát tiền
Cuộc đời như thế là tiên trên trần!

Hắn đã từng là "Sĩ", hắn đã từng là "Vương", danh giá quá rồi, hắn có muốn tham lam gì thêm nữa đâu!

Irvine, California, Tháng Tư 2009

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 11 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                   -Quýdenver- 

11 - Tuổi sồn sồn của hắn

Từ một gã học sinh thích đánh đáo, bắn bi, thả diều, đuổi bướm… hơn là thích sách vở, hắn trở thành ông quan để rồi vượt biên sang Mỹ, khệ nệ mang theo hai chữ tỵ nạn to tướng trên vai. Trong cuộc hành trình dọc theo chiều dài của cuộc đời đầy những cái thích cái không thích ấy, hắn cũng có cả đống chuyện để kể lể. Moi móc, lôi kéo ra, viết thành sách này sách nọ, sách dày cả ngàn trang là cái chắc. Nếu khéo léo pha chế chút mắm muối sách có thể khiến người đọc không … xanh mày thì cũng … đỏ mặt !

Có người nói với hắn ông ca sĩ ấy hát bài “Mộng Dưới Hoa” hay nhất, có người nói ông hát bài “Áo Lụa Hà Đông” hay nhất, nhưng hắn lại thích bài ông hát là “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Hắn làm một Video Clip, upload lên Youtube. Vài tháng sau, một “fan” trên Youtube gửi cho hắn câu chuyện “Tuổi Già Của Tôi”. Thì ra đó là cái “Tuổi già của…” ông ca sĩ.

Hắn không đọc. Hắn không thích đọc những bài viết tương tự bởi trước sau thế nào cũng ít nhiều gặp phải cái mùi hắn kỵ. Mẹ hắn đã chẳng nói hắn tuổi khỉ đấy ư: “Tôi đẻ ra nó mà lại không nhớ sao?”, nhưng chị hắn (con bà cả) thì lại nói hắn tuổi gà: “Tôi đón tay nó mà lại không nhớ sao?”. Ai cũng nhớ nên bây giờ nói hắn tuổi khỉ hay tuổi gà thì cũng đúng thôi.

Thế rồi, khi nhận được câu chuyện này lần thứ hai do một chị bạn thân ở Houston, Texas gửi thì hắn phải đọc, đọc mà lòng cứ dửng dưng mù mờ, chả nhớ tác giả đã nói những gì. Cho mãi đến khi nhận được đôi điều bàn ra tán vào của một người bạn thân khác ở Aurora, Colorado thì hắn mới đọc kỹ và thích thú biết bao khi thấy những điều bàn ra tán vào của người bạn thân đã giúp hắn khám phá ra cái lý do của sự dửng dưng mù mờ trước đó mà hắn chỉ linh cảm thấy chứ không lý giải được.

Dẫu sao thì câu chuyện “Tuổi Già Của Tôi” của ông ca sĩ và những lời bàn đi tán lại của hai anh chị bạn thân nói trên cũng mang đến cho hắn một hứng khởi để kể lể đôi điều, không phải vể cái tuổi già của hắn bây giờ mà về cái “Tuổi sồn sồn của hắn” trước kia.

Hôm đó là ngày cuối tháng 4/1975, sau khi “ra tù” (Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời – 5 - Tháng tư bát nháo) hắn thất thểu lên Bộ Tư Lệnh KQ để nghe ngóng. Diệm mộc tồn ngăn hắn lại: “Mày vừa bị tù ra, lên gặp chúng nó làm gì!” Hắn không nghe, lên Bộ Tư Lệnh thấy các tướng có mặt đầy đủ (Kỳ, Minh, Lành, Loan, Linh, Dinh, Tần…) và có cả hai ông tướng bên Lục Quân cùng nhiều quan to khác. Thấy hắn, xếp chạy lại nói nhỏ ra cái điều vỗ về, an ủi: “Toa yên tâm, 10 chiếc C130 đã sẵn sàng chờ lệnh nếu có chuyện gì xảy ra…”. Hắn cười, nghĩ thầm: “Nếu có chuyện gì xảy ra thì họ cất cánh với vợ con chứ sức mấy mà chờ lệnh.”

Hắn thu mình trong chiếc ghế bành cũ góc phòng vừa ngủ gà ngủ gật, vừa nghe ngóng. Vợ con hắn đi rồi, giờ này đang trên đảo Guam. Hắn nghe tin như thế, chả biết có đúng không nhưng cũng thấy yên tâm một phần. Hắn nghĩ đến cái hôm đưa vợ con sang DAO đi Mỹ, bà người Mỹ được chỉ đinh lo cho vợ con hắn đã chỉ vào 2 bông mai trắng trên vai hắn, nói nhỏ: “Gỡ bỏ cái này đi rồi cùng sang Mỹ mà lo cho vợ con”. Hắn không nghe, nhỏ nước mắt từ biệt vợ con, quay về sở để sau đó vào ngồi tù, chút nữa bị tước lon đưa ra sân cờ xử bắn và giờ này thu mình ngồi đây nghe ngóng.

Hắn đưa tay sờ khẩu súng P38 ngắn nòng đeo bên hông. Gần 22 năm đời lính hắn chưa bắn chết một tên giặc nào. Khi Ngô Đình Diêm quyết đinh đánh Bình Xuyên, hắn được chỉ định mang một trung đội (tăng cường bởi một bộ phận súng nặng không giật 57 ly) vượt cầu chữ Y tiến chiếm tư dinh Bẩy Viễn. Từ bờ sông bên này, hắn quyết định sẽ tự tay bắn một phát súng không giật 57 ly vào tư dinh Bẩy Viễn như là một cú phủ đầu. Hắn loay hoay nạp đạn, điều chỉnh ống nhắm, bóp cò. Sau tiếng nổ inh tai nhức óc, hắn thấy viên đạn hùng dũng vụt thoát ra khỏi nòng súng, rơi nổ giữa… lòng sông! Anh Trung Sĩ Nhất truyền tin cười tình với hắn: “Trung Úy không có tay sát người, suốt đời binh nghiệp Trung Úy không thể lên tướng được đâu!”.Rồi hắn ngâm nga: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”

Khi tiến sang bên kia đầu cầu chữ Y, hắn dẫn trung đội xông vào tư dinh Bẩy Viễn thì Bẩy Viễn đã đi khỏi từ hồi nào. Anh Trung Sĩ Nhất truyền tin nói không sai, quả là hắn không có tay sát người. Sau đó hắn đựơc lệnh mang trung đội đến trấn giữ cầu Nhị Thiên Đường, nhường tư dinh Bẩy Viễn cho một đơn vị khác chiếm đóng mà chả phải bắn thêm một viên đạn nào. Nghe đâu, đơn vị này đã khám phá ra một căn nhà chứa đầy bạc của Bảy Viên rồi lấy chia nhau. Hắn chép miệng tiếc hùi hụi.Hắn ngồi đấy miên man suy nghĩ, bây giờ nếu phải hành động hắn sẽ nhất định không nương tay và viên đạn cuối cùng sẽ dành cho hắn. Nghĩ thì nghĩ vậy, chả biết đến lúc đó hắn có đủ can đảm không!

Gần trưa, hắn bừng tỉnh khi nghe Tướng Kỳ nói: “Mấy C130 đã cất cánh hết rồi, mình phải đi, nếu chậm sẽ không còn phương tiện”. Ông ra xe jeep. Lên xe cùng ông có 2 người nữa trong đó có ông tướng lục quân. Hắn nhảy lên pickup bám sát sau xe tướng Kỳ. Khi xe ông vào khỏi cổng tư dinh (trong BTL cũ) thì cổng đóng lại, không ai vào theo được.

Hắn chợt nhớ đến “chương trình ra đi” của một số anh em trực thăng, lập tức quay xe. Chưa biết hướng về ngõ ngách nào thì Triệu (An Ninh) ngừng xe hỏi hắn: “Anh biết cách nào để đi không?” Thấy xe jeep của Triệu trang bị súng trung liên và còi hụ, hắn bỏ xe pickup nhảy lên xe của Triệu, bảo Triệu đưa cho hắn khẩu M16 gài bên cạnh ghế. Hắn lên đạn, nói với Triệu: “Tôi có chương trình đi, từ đây anh phải nghe theo tôi nếu không sẽ hỏng việc.” Triệu phản ứng: “Anh có chương trình đi thì tôi theo anh, làm gì mà dữ dằn thế.”

Hắn bảo Trịệu chạy sang SD5KQ mà không biết sau đó chuyện gì đã xảy ra đối với những người đang kẹt lại tại đây. Sau này Phong híp cho hắn biết hầu hết mọi người quay sang DAO với nhiều chuyện dở cười dở khóc. Khi đến cổng SD5KQ thì gặp Dinh (có võ) dơ tay ngoắc. Hắn nghĩ, nếu có thêm ngôi sao trên vai của ông này thì việc chạy đi chạy lại sẽ dễ dàng hơn nên bảo Triệu ngưng lại. Hắn nhường Dinh ngồi ghế trước, nhảy xuống ngồi phía sau để dễ hành động khi cần.

Trong thời gian nghiên cứu thực hiện giá súng để trang bị Minigun lên UH1, hắn đã làm việc rất gần gũi với trực thăng, nhiều lần bay trực thăng để trắc nghiệm đồng thời huấn luyện các xạ thủ phi hành nên quen nhiều xạ thủ trực thăng và một số hoa tiêu trực thăng cấp nhỏ. Trong những ngày giữa tháng 4, hắn được anh em tiết lộ cho biết có một “chương trình ra đi” của một số anh em trực thăng nếu có chuyện gì xảy ra, đồng thời họ còn cho hắn một ám hiệu để nhận nhau. Nói là có chương trình nhưng thực ra cũng rất mơ hồ, nhưng trong giây phút sinh tử lúc đó hắn đành coi như một hy vọng cuối cùng để bám víu.

Sang đến SD5KQ, chạy quanh một chút hắn thấy một chiếc Chinook với 2 cánh quạt đang quay, một bánh bị bẹp và cửa sau vẫn hạ mở. Nhìn vào trực thăng thấy chật ních người, ngổn ngang xe đạp và có cả một chiếc vespa. Hắn bảo Triệu ngưng lại, đưa tay ra ám hiệu thì nhận được trả lời. Hắn nhảy xuống xe, leo lên trực thăng, quay lại nói với Dinh và Triệu: “Đây là chương trình đi của tôi, các ông muốn đi hay không tuỳ ý.” Triệu và Dinh cũng theo hắn trèo lên vừa kịp lúc trực thăng cất cánh. Hắn nhìn qua cửa sổ thấy Liêm (chữ bát) và Khải (hoàng hủi) không kịp leo lên, bị rớt xuống. Hắn nghĩ Liêm và Khải bị kẹt lại nhưng sau này hắn thấy cả hai ngừời cũng thoát đi được và đến Mỹ trước hắn.

Hắn chen lấn tới gặp một xạ thủ minigun trực thăng quen biết đang dơ tay vẫy hắn. Hắn hỏi anh ta chương trình đi sẽ như thế nào thì thấy tim như đứng lại khi nghe anh ta nói: “Em thấy trực thăng thì nhảy lên và thấy Tr/t ra ám hiệu thì trả lời chứ em cũng không rõ đây có phải là chương trình đi của mình không.” Hắn chỉ còn biết tự an ủi: “sống chết đành uỷ thác cho số mệnh thôi”.

Chiếc Chinook ì ạch cất cánh, có lúc hắn tưởng như bị rớt xuống, không cất cánh nổi. Bay qua Nhà Bè thấy trực thăng của Tướng Kỳ đang đổ xăng. Qua khỏi Nhà Bè chừng 15 phút, chiếc Chinook hạ cánh giữa một cánh đồng mà ở đấy hắn thấy khoảng hơn chục chiếc UH1 đậu theo một hàng dài với cánh quat đang quay. Hắn tức tốc nhảy lên một chiếc UH1, quay nhìn xuống đám người khá đông còn đứng nhốn nháo phía dưới, thấy Dinh dơ tay múa võ: “Tôi ra lệnh các anh bay ra Côn Sơn.” Một người trên trực thăng nói vọng xuống: “Bây giờ không còn lệnh lạc gì nữa, muốn đi thì lên!”. Ít phút sau, chiếc máy bay trên đó có hắn và vài cái khác cất cánh. Lại một lần nữa, hắn nghĩ Dinh và nhiều người bị kẹt lại nhưng rồi Dinh cũng thoát đi được.

Anh em trên trực thăng quyết định bay ra Hạm Đội 7, bàn với nhau không biết có nên đến SD4KQ đổ xăng hay không. Sau cùng anh em quyết định ghé Đồng Tâm. Trong dịp này hắn được anh em giao cho nhiệm vụ điều khiển một số anh em khác tháo gỡ Minigun trên các trực thăng cho nhẹ. Thấy mấy anh lính phụ trách đổ xăng trố mắt nhìn mấy chàng KQ tháo súng bỏ đống trên đất, hắn thương quá , móc túi moi hết mấy tập vé xăng trao cho họ (!), rồi đưa mắt nhìn sang khu kế cận thấy một số quân nhân vẫn còn đang thao tập căn bản quân sự bình thường.

Khi trực thăng bay ra biển, mở tín hiệu SOS thì nhân được trả lời của Hạm Đôi 7. Họ cho “cap” để bay tới một chiến hạm mà hắn nghĩ là gần nhất bởi chỉ khoảng hơn một giờ sau thì nhìn thấy chiến hạm. Khi tới gần chiếm hạm, mọi người mừng rỡ thoát nạn nhưng xin đáp mấy lần đều không được phép nên cứ bay vòng mà không biết tại sao. Giữa lúc mọi người nhốn nháo thì nhận được câu hỏi từ chiến hạm yêu cầu cho biết còn bay được bao lâu nữa và qua câu hỏi này anh em suy ra là họ bẳt bay cho cạn xăng mới cho đáp vì vấn đề an toàn.

Rồi trực thăng cũng đáp xuống chiến hạm. Một số quân nhân Mỹ áp tới, ra lệnh cho mọi người dơ tay và nói lớn: “You’re now safe. You no longer need gun.” Họ tước vũ khí và đưa mọi người xuống hm tầu ở đấy hắn thấy có hai ông tướng Biên Hòa: Tính và Bê. Còn chiếc trực thăng thì được họ đẩy xuống biển.

Vài ngày sau, mọi người được chuyển sang một tàu buôn chật đầy người Việt và rất may hắn gập Phong híp để đấu láo qua ngày. Tàu chạy được hơn một ngày thì thấy đất liền hiện ra ở chân trời. Hắn giật mình hỏi Phong híp: “Mới đi có hơn một ngày đã thấy đất liền. Đảo nào vậy hay là… họ đưa mình trở lại VN?”. Nhưng rồi được tin là tàu nhận lệnh quay trở lại để cứu vớt thêm một số người đang lênh đênh trên biển.

Hắn không nhớ là tàu đã chạy mấy ngày đêm để rồi mọi người được đẩy xuống đảo Wake. Trước đó, vợ con hắn được đưa đến đảo Guam, bây giờ hắn cập đảo Wake vì vậy mới có câu thơ tức cảnh sinh tình: “Bây giờ chồng Wake vợ Guam / Nơi này chốn ấy biết làm sao đây?” Được chuyển đến trại tỵ nạn Pendelton, hắn gặp Diệm mộc tồn và nhớ mãi câu phát ngôn bất hủ của Diệm: “Trong đời tao chưa bao giờ thấy sảng khoái như những ngày trong trại tỵ nạn này”

Hắn nhớ đến một chuyện…. trên tàu, nghe cũng rất là sảng khoái.

Ăn thì phải ị…, đó là 2 trong 4 cái khoái của con người. Để thoả mãn cái khoái thứ tư này người ta làm hàng chục cầu tiêu tạm chênh vênh trên thành tàu để bà con trút… xuống biển. “Thứ nhất là ị… ngoài đồng”. Ngày xưa khi còn nhỏ ở nhà quê hắn nghe người ta ví von như vậy, hắn đã thực hành và thấy sảng khoái vô cùng. Nhưng bấy giờ, nhìn dãy cầu tiêu dọc trên thành tàu hắn thấy phải sửa lại câu ví von trên: “Thứ nhất là ị… trên tàu!”. Đúng vậy, chẳng ị… ở đâu khoái bằng i… trên tàu. Vừa mát vì lúc nào gió cũng thổi ào ào, vừa có cái cảm giác mạo hiểm là có thể rơi tọt xuống biển hay nhẹ hơn thì bay mất cái quần cái áo. Gay nhất là giai đọan lau chùi mà chẳng mấy khi… sạch. Khi ấy thì một tay núm chặt thành cầu, một tay lau lau chùi chùi chứ tay đâu mà ôm quần ôm áo.

Thế rồi, có những buổi sáng buổi chiều, hắn và Phong híp rủ nhau ra thành tàu để hưởng gió… mát và xếp hàng chờ đến lượt mình giải quyết cái khoái thứ tư. Một lần, hắn bất chợt nghe thấy tiếng la thất thanh của một bà: “Ối giời ơi, bay mất hết rồi!”. Hắn giật tay Phong híp: “Nghe thấy gì không? Chắc là bà nào để bay mất áo mất quần rồi, biết lấy gì mà che đây!” Nhưng Phong híp đã nhận thấy chuyện gì xảy ra, đưa tay chỉ những tờ giấy nhỏ đang bay trong gió và nổi lênh đênh trên biển, hét to: “Đừng can ngăn tao, mày đừng can ngăn tao! Tao sẽ bay theo gió, tao sẽ lao xuống biển. Ôi, đô la, mi hãy chờ ta.” Hắn phải hết sức kìm Phong híp lại, chỉ sợ Phong híp lao xuống biển hay bay theo gió thì lấy ai để đấu láo!

Một tháng tư bồng bềnh.

Garden Grove, California Thánh Tư 2010

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 12

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                    -Quýdenver -

12 - Câu chuyện không đoạn kết

My favorite book ending is no ending at all. - Robert Fulghum

Cùng với cuộc cuộc tản cư rầm rộ xảy ra vào năm 1946, tôi theo gia đình đáp chuyến xe lửa cuối cùng rời Hànôi lên sống tại một thôn ấp thuộc tỉnh Vĩnh Yên, cách Hànội khoảng 70 cây số về hướng bắc. Khi đó Vĩnh Yên là một tỉnh thuộc Chiến Khu X, có 6 huyện là Tam Dương, Bình Xuyên, Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Đảo và Vĩnh Tường.

Dãy núi Tam Đảo chạy dài sát biên với tỉnh Thái Nguyên có phong cảnh rất hùng vĩ, hữu tình và đã từng là nơi anh hùng Hoàng Hoa Thám lập chiến khu chống thực dân Pháp. Huyện lỵ Tam Đảo là nơi nghỉ mát nổi tiếng. Bố tôi thỉnh thoảng đưa tôi lên đây du ngoạn và đấu cờ tướng với một vài người bạn tại địa phương. Huyện Vĩnh Tường có đền thờ vua Hùng Vương thứ 18 và cũng là nơi sinh trưởng của anh hùng Nguyễn Thái Học và Trịnh Văn Cấn, tức Đội Cấn.

Lúc bấy giờ tại tỉnh Vĩnh Yên có 2 bài hát rất thịnh hành, đi đâu cũng nghe hát là “Chiều Yên Thế” và “Đoàn quân văn hoá”. Tôi không biết tên tác giả của những bài hát này và cũng chỉ còn nhớ lõm bõm vài câu đầu của bài hát:

Chiều Yên Thế
Đây chiều Yên Thế
Khói sương mờ hơi
Gió than trên đồi
Gieo buồn khắp nơi….

Đoàn quân văn hoá
Hướng về thủ đô nơi vang tiếng súng
Bao xác phơi sa trường cho nền độc lập nước nhà
Anh em ta là đoàn quân văn hoá
Đi đi không còn mộng mơ…

Giữa năm 1949, tôi thi Trung học phổ thông. Địa điểm thi là một ngôi đình thuộc Huyện Vĩnh Tường. Ngoài đề thi về các môn khác, đề thi về luận văn như sau:

Anh chị đã nghe bài hát “Đoàn quân văn hoá” đang thịnh hành với 4 câu đầu là:
“Hướng về thủ đô nơi vang tiếng súng
Bao xác phơi sa trường cho nền độc lập nước nhà
Anh em ta là đoàn quân văn hoá
Đi đi không còn mộng mơ…”
Anh chị nghĩ gì khi nghe bài hát đó?

Sau khi làm xong bài luận văn, tôi nổi hứng, viết thêm vào cuối bài luận văn một bài thơ tôi thích. Bài thơ khá dài nhưng nay tôi chỉ còn nhớ 8 câu trong 2 đoạn đầu:

Lạc Mẹ
Mẹ lạc bước bao ngày con đợi Mẹ
Mắt thơ ngây theo dõi lối xa xăm
Bụng oán cừu uất hận giống xâm lăng
Khóc thổn thức trong lòng, ngoài khoé mắt
Con lạc Mẹ mặt trời như muốn tắt
Tháng ngày trôi nặng chĩu nỗi căm hờn
Sống âm thầm trong sông núi cô đơn
Nói nghẹn tiếng và cười ra nửa miệng…

Tôi cắm cúi viết một mạch cho đến cuối giờ thi mà không biết khi viết những câu thơ như vậy là vì trong lòng đã thực sự nhen nhúm, tuy còn mơ hồ, một tình yêu nước thương nòi, một mối căm thù giặc Pháp xâm lăng hay chỉ là một a dua theo thời thế.

Thi xong, tôi về nhà hí hửng kể cho bố tôi nghe để bị bố tôi mắng cho một trận: “Mày làm văn thế thì trượt vỏ chuối rồi!”. Tôi ân hận và buồn nản, thẫn thờ ra cuối sân sau nhà, trèo lên cây khế, ngắt một quả, đưa vào mồm nhai ngấu nghiến, nước mắt nước mũi trào ra. Khế chua hay là tôi đã khóc? Bốn tuần sau, tôi lên địa điểm thi để xem kết quả thì ngạc nhiên và vô cùng vui sướng vì tôi đỗ hạng Ưu!

Một điều khiến tôi ngạc nhiên hơn nữa và không thể ngờ được là khoảng 3 tháng sau, bài “luận văn” của tôi lan truyền khắp trong huyện và tôi được Uỷ ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh ban giấy khen đồng thời mời tham dự một khoá học chính trị 2 tuần lễ. Quả thật, lúc đó tôi cảm thấy rất hãnh diện. Hôm khăn gói lên đường, tôi được chị Thắm, đoàn trưởng phụ nữ cứu quốc xã, tiễn chân tới cuối thôn và nói sau khoá học chính trị tôi sẽ trở thành một cán bộ trẻ tuổi được nhiều người trọng vọng. Chị có nụ cười thật tươi, hồn nhiên và nhí nhảnh như gái Bắc Ninh, quê Mẹ tôi.

Khoá học có 4 học viên là tôi, một người nữ khá lớn tuổi và 2 người nam trông mặt non choẹt cỡ cùng tuổi tôi. Trong bài viết này, tôi tạm gọi 2 người nam một anh là “Ngọng” vì tuy không lẫn lộn giữa 2 chữ “L” và “N” nhưng khi nói đến những chữ này thì hơi ngượng ngập; một anh là “Hiếng” vì khi nhìn người khác thì nhìn nghiêng; còn người nữ tôi gọi bằng tên thật: Chị Mai.

Huấn luyện viên - đã được thông báo trước cho học viên - là một cán bộ tỉnh tên Chót, đồng chí cán bộ Chót. 8 giờ sáng hôm đó, 4 học viên chúng tôi được đưa đến gặp Chót trong sân trước một ngôi nhà cũ, tường gạch mái ngói, ven rìa làng. Chót mặc quần áo nâu, gấu quần thắt lại bằng một sợi giây gai nhỏ. Trên miệng túi áo ngực gài chiếc bút máy nắp màu đỏ nhạt. Chân di dép cao su quai tréo màu trắng đục, lưng đeo ba-lô vải dầy màu nâu thẫm và đầu đội mũ cán bộ màu đen (một loại mũ lưỡi trai).

Chót mở lời trước với 4 học viên chúng tôi:

- Chào 4 đồng chí. Hân hạnh được tiếp đón các đồng chí. Mời các đồng chí dành dăm phút làm quen nhau.

Chót nhếch một bên mép, cười nhe bộ răng cải mả, rồi quay gót bước vào nhà, nét mặt thoáng lạnh lùng, không như lúc mới đầu gặp gỡ.

Ngọng nhẩy bổ đến đưa 2 tay nắm tay tôi:

- Năm nay tôi 20 tuổi, đồng chí bao nhiêu tuổi? Chắc lớn hơn tôi.

Tôi hơi giật mình. Tôi thua hắn 4 tuổi thế mà hắn cho là tôi lớn hơn hắn. Tôi già thế rồi ư? Tôi ngần ngừ, trả lời bâng quơ, trống không:

- Tôi mới 16 tuổi.

Nghe vậy, Hiếng nghiêng mắt nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên nói không trọn câu:

- Thế mà tôi cứ tưởng…

Từ đầu đến giờ, chị Mai đứng yên, không nói gì. Tôi nhìn chị..., chị nhìn tôi rồi bước đến đặt nhẹ tay lên vai tôi, nói nhỏ:

- Em giỏi quá! Chị nghe trên huyện nói.

Buổi học đầu tiên đến 10:00 giờ mới khai giảng. Như vậy là chúng tôi còn hơn 1 tiếng rảnh rỗi. Tôi kéo nhẹ chị Mai ngồi xuống bên gốc một cây có lá to nhưng không biết là cây gì. Chừng như thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn hàm răng trắng ngà đang đổi sang màu nâu nhạt cùa chị, chị hiểu ý, nói:

- Chị là người Hànội, theo anh tản cư lên đây.

Tôi định la lên nhưng chị kịp đưa tay bịt mồm tôi, tôi nói nhỏ:

- Em cũng là người Hànội… Đúng ra, quê em ờ Gia Lâm, ngay bên kia cầu Long Biên. Em được bố mẹ gửi ra Hànội học.

Chị Mai không nói gì thêm, mắt xa xăm hướng về phía cuối cánh đồng phía Nam như đang nhớ về một dĩ vãng hay một kỷ niệm nào đó. Chị mới 22 tuồi - chị nói với tôi trước đó. Trong giây phút, tôi muốn hỏi chị về tiếng “anh” - “theo anh tản cư lên đây” - nhưng Chót đã ra mời chúng tôi vào lớp học.

Lớp học là căn phòng chính giữa ngôi nhà. Trên bức tường trát vôi vữa với vài chỗ đã loang lở đối diện cửa ra vào, có treo bức hình “Hồ chủ tịch” đóng khung bằng 4 thanh tre màu nâu sẫm. Trong phòng kê 6 chiếc ghế gỗ mộc cũ kỹ chung quanh một chiếc bàn cũng bằng gỗ mộc trơn nhẵn vì đã được dùng đi dùng lại nhiều lần. Chót ngồi ở ghế đầu bàn, chỉ cho 4 học viên chúng tôi ngồi vào 4 chiếc ghế ở 2 bên, ghế cuối bàn bỏ trống. Tôi ngồi đối diện với chị Mai phía cuối bàn, Ngọng ngồi bên trái tôi, đối diện với Hiếng phía đầu bàn.

- Các đồng chí thân mến,...

Chót đứng lên, 2 tay chống trên mặt bàn, ngước mắt nhìn bức hình “Hồ chủ tịch”:

- Nhờ ơn bác, tôi được tiếp đón các bạn hôm nay…

Chót đưa 2 tay vắt tréo sau lưng, bước đi vài bước rồi quay ngoắt lại, nói tiếp:

- Hôm nay là buồi học đầu. Trước khi đi sâu vào khoá học, tôi muốn kể các đồng chí nghe một câu chuyện…

Chót ngừng, rồi với một cử chỉ bất ngờ, thật nhanh, vồ lấy cái bút chì trên mặt bàn trước mặt, giơ lên cao:

- Các đồng chí có biết đây là cái gì không?... Đây là cái bút chì, vâng, đây là cái bút chì, nhưng tại sao người ta lại gọi là cái bút chì mà không gọi bằng cái tên gì khác?

Chót nhấn mạnh từng tiếng một. Tôi ngẩn người không hiểu, đưa mắt nhìn chị Mai. Chị khẽ nháy mắt như ngầm bảo tôi là hãy kiên nhẫn.

Chót nói tiếp một thôi dài, lần này giọng hạ thấp, nhẹ nhàng hơn:

- Vâng, đây là cái bút chì. Người ta gọi như thế vì thấy lõi viết là một chất quặng gọi là chì. Nếu tôi gọi đây là cái bút than thì cũng được bởi vì lõi viết cũng là một chất quặng gọi là than. Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh với các đồng chí trong câu chuyện hôm nay là người ta đã đồng ý với nhau gọi như thế, một sự đồng ý có tính cách đương nhiên, không ai thắc mắc vì gọi lâu đã quen rồi. Bây giờ, nếu tôi đi xa hơn một tí, gọi cái bút chì này là… là…

Chót nhìn quanh như tìm kiếm một cái gì:

- Là cái… đinh chẳng hạn thì chắc các đồng chí sẽ cười rộ lên, cho tôi là một thằng khùng! Thái độ của các đồng chí như vậy không có gì sai. Làm sao có thể gọi cái bút chì này là cái đinh được! Nhưng, nếu tôi cứ tiếp tục gọi cái bút chì là cái đinh hết ngày này đến ngày khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác rồi cũng sẽ có một ngày các đồng chí chẳng để tâm thắc mắc nữa, chẳng còn cho tôi là thằng khùng nữa và, khi đó nếu có ai gọi cái bút chì là cái đinh như tôi thì cũng là chuyện bình thường thôi!

Chót đổi giọng, mạnh hơn:

- Tuyên truyền là bàn đạp tối quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống thực dân cứu nước. Người chiến sĩ tuyên truyền phải nói, phải viết làm sao để có thể chuyển hóa được lòng người, đạt được mục tiêu tối hậu cách mạng đã đề ra mà nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...

Tôi hơi sửng sốt nghe câu nói sau cùng của Chót: “nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...”, nhưng phải thú thực rằng cách nói nhát gừng với những khoảng im lặng rồi bất ngờ nói tiếp cũng như cử chỉ diễn đạt và vẻ mặt biến đổi theo câu nói của Chót đã khiến tôi chú tâm và nóng lòng chờ nghe tiếp. Hình như trong tôi, một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, trong trắng, dễ tin, đang bắt đầu nhen nhúm một niềm cảm phục.

Tôi đưa mắt nhìn các học viên khác. Ngọng há hốc mồm ngồi nghe như muốn nuốt từng lời nói của Chót. Hiếng cặm cụi ghi chép không ngừng. Chị Mai vân vê mép tờ giấy trước mặt. Còn tôi…, không biết tôi đang là một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, tác giả bài “luận văn” nổi tiếng hay đang biến thành một chiến sĩ cán bộ tuyên truyền được nhiều người trọng vọng, như chị đoàn trưởng đoàn phụ nữ cứu quốc xã nói? Chị đang hy vọng gì ở tôi?

- Con người là một con vật yếu đuối, luôn luôn bị cái bản năng sinh tồn và tham vọng ngự trị…

Chót tiếp tục nói nhưng tôi không còn nghe và nhớ được điều gì nữa. Tôi cảm thấy khoan khoái khi buổi học tạm kết thúc để rồi tiếp tục vào ngày hôm sau. Ngày hôm sau, Chót sẽ nói gì, tôi sẽ nghe và nhớ được gì?

4 học viên chúng tôi cùng đi chung trên một khoảng đường ngắn trước khi toả ra ai về nhà nấy. Qua vài lời trao đổi, tôi được biết cả 4 học viên chúng tôi đều được các chị phụ nữ cứu quốc địa phương niềm nở tiếp đón và lo nơi ăn chốn ở do lời yêu cầu từ trên huyện. Ngọng hí hửng kể hắn được gửi theo khoá học chính trị này do một thành tích tố cáo ông phó lý trong làng là một địa chủ bóc lột nông dân. Trong khi kể, Ngọng vô tình không giấu được cái đuôi là hắn quyết định tố ông phó lý vì cô con gái của ông không chịu lấy hắn làm chồng. Hiếng thì kể là do đã thuyết phục được dân làng cùng với hắn tháo gỡ gần 500 thước đường rầy xe lửa trong kế hoạch tiêu thổ kháng chiến. Chị Mai chỉ cho biết đang ở với gia đình ông bá hộ Bòng. Ông Bòng đã hiến cho cách mạng cả một kho thóc nên được cách mạng tuyên dương.

thực dân Pháp đang bay đến bắn phá. Không ai bảo ai, mọi người tìm nơi ẩn núp. Tôi nắm tay chị Mai, kéo ra cánh đồng trước mặt:

- Ra bờ ruộng ẩn núp tốt hơn. Mình nhìn thấy máy bay nên dễ né tránh.

Chị Mai và tôi ngồi núp vào một góc bờ ruộng cao, nhìn 2 chiếc máy bay màu xanh thậm bay vòng vòng rồi nhào xuống bắn phá vào một khu ở cuối làng. Có một lúc máy bay hướng về phía chúng tôi, chị Mai đẩy tôi vào phía trong góc bờ ruộng rồi ôm chặt lấy tôi như để che chở. Tôi buột miệng nói với chị Mai:

- Em muốn bỏ về, không học nữa!

Đến lượt chị Mai kéo tôi, lúc thì kéo tôi nằm xuống ẩn núp, lúc thì kéo tôi đứng lên chạy về hướng làng bên cạnh. Chị không nói nên tôi không biết chị nghĩ gì.

Tiếng tù và lại nổi lên nhưng lần này thì nghe đều đều một hồi dài, không có lúc mạnh lúc nhẹ như khi nãy. Khi chị Mai và tôi đến quán nước nơi vệ đường gần cổng làng thì bà chủ quán cũng mới đi ẩn núp về:

- Chả biết có người nào chết không? - Bà chủ quán nói bâng quơ thế thôi chứ không phải nói với chúng tôi.

Chị Mai mua 2 gói xôi đậu đen rồi đưa tay chỉ cây sung nơi bờ ao cách đó chừng 100 thước:

- Chúng ta ra kia ngồi ăn.

Hai chị em chúng tôi (bây giờ thì tôi đã coi chị Mai như là một người chị) ngồi bệt xuống cỏ, cùng dựa lưng vào gốc cây sung, mỗi người hướng về mỗi ngả. Một con ễnh ương màu vàng có đường chỉ xanh trên lưng trố mắt nhìn tôi rồi xoải chân phóng xuống nước.

- Chị chưa nói cho em biết anh là ai, giờ anh đang ở đâu? - Tôi bất ngờ hỏi.

- Ăn đi, ăn xong rồi chị nói, chị chưa ăn sáng nên đang đói đây. - Giọng chị nhẹ nhàng thật dễ thương.

Tôi quay lại nhìn chị. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ thấy trên má chị có một nốt ruồi nhỏ. Đôi mắt chị sâu và sáng, môi dưới dầy và hơi trễ xuống một tí.

- Ăn đi, nhìn gì mà như nhìn con quái vật thế! - Chị mắng tôi.

- Em đang nhìn một bà tiên! - Tôi nói và cảm thấy lòng như ấm lại.

Tôi chợt nhận ra là từ khá lâu nay tôi thiếu vắng cái cử chỉ trìu mến của một người mẹ hay một người chị vì bận học hành và mải mê với những công tác lăng nhăng này nọ.

Tôi vo tròn miếng lá chuối gói nắm xôi vừa ăn xong, ném nghiêng xuống mặt nước ao, chưa kịp hỏi lại thì chị Mai đã nói:

- Gia đình chỉ có anh và chị tản cư lên vùng này. Anh chị đến cư ngụ tại một làng thuộc huyện Bình Xuyên. Trong làng có một bà chủ lò bún mời chị mở chung một quán bán bún riêu. Nói là chung nhưng thực ra chị chỉ là người quán xuyến lo lắng cho quán bún riêu của bà ta thôi. Tuy vậy cuộc sống cũng dễ chịu. Sau khi giúp nhân dân tự vệ trong làng tổ chức thành công một cuộc phòng thủ thụ động và tiêu thổ kháng chiến, anh đuợc tiến cử làm Huyện đội phó Huyện Đội Bộ Dân Quân Du Kích tại một huyện trong tỉnh. Tháng hai đầu năm vừa qua, người ta khuyến dụ anh gia nhập đảng cộng sản, anh không chịu và định tìm đường hồi cư về Hànội thì bất ngờ anh bị bệnh rồi mất…

- Anh mất rồi hả chị? - Tôi choáng váng.

- Anh mất vì bị bệnh thương hàn mà không biết để giữ gìn, kiêng khem, tiếp tục ăn thức ăn nặng nên ruột bi nứt vỡ ra không cứu chữa được. Để thưởng công, người ta gửi chị theo khoá học này. - Chị Mai nói tiếp, giọng nhẹ như hơi thở.

- Chị nói anh chị tính hồi cư về Hànội, sao chị lại còn theo học khoá này? - Tôi thắc mắc.

- Thì cũng là để che mắt thế gian rồi từ từ tính mà thôi. Chị cũng muốn bỏ khoá học này, vì thực chất của khóa học chỉ là để dạy mình… nói dối! - Chị nhìn tôi như dọ hỏi.

Tôi khẽ cúi đầu, nhớ đến câu nói của Chót trong buổi học hôm qua: “nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...” Thế là 2 chị em chúng tôi quyết định bỏ khoá học. Chị Mai bàn với tôi là chị sẽ thu xếp với bà chủ lò bún để 2 chị em chúng tôi tạm cư ngụ ở nhà cô Dậu, một người cháu của bà ấy. Cô Dậu ở làng bên cạnh, cách xa chừng 2 cây số, là một người rất tốt sẽ kín đáo không để lộ tung tích 2 chị em chúng tôi.

Hai chị em chúng tôi đi gần suốt đêm, về gặp bà chủ lò bún. Bà tỏ vẻ hơi ngỡ ngàng nhưng rồi cũng đưa 2 chị em chúng tôi sang nhà cô Dậu. Cô Dậu năm đó khoảng 50 tuổi, chồng mất sớm, ở một mình. Cô có đứa con trai đi công tác đây đó lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Cô Dậu thu xếp cho chị Mai một cái chõng tre để ngủ đêm ngay trong buồng với cô, còn tôi thì giải chiếu ngủ trong căn buồng nhỏ có chứa mấy thứ lặt vặt. Chị Mai khuyên tôi nên tìm cách cho gia đình biết ngay.

Hôm sau, tôi lén về làng tìm cách báo cho gia đình biết. Tôi đến nhà chị Thắm mà không dám về nhà bố mẹ vì sợ bị lộ. Chị Thắm ngạc nhiên khi gặp tôi:

- Sao... cậu lại về, không học nữa à?

Tôi giơ tay ngang miệng ra hiệu cho chị Thắm nhẹ tiếng, kể vắn tắt chị nghe rồi nhờ chị cho gia đình tôi biết là tôi đã bỏ học và đang ở nhà cô Dậu. Tôi cám ơn chị Thắm rồi quay gót sau khi cho chị biết địa chỉ nhà cô Dậu. Nghĩ lại, tôi không biết tại sao tôi lại tin tưởng ở chị Thắm, nói tất cả cho chị biết những gì đã xảy ra. Trước đó tôi chỉ quen biết chị một cách rất sơ sài. Có lẽ đây là vấn đề thuộc về linh tính khó mà giải thích được. Tôi cầu mong chị Thắm sẽ giữ kín việc tôi nhờ, bằng không thì đã chót lỡ rồi, cũng đành thôi.

Cuối tháng đó Pháp mở cuộc hành quân tại vùng gia đình tôi cư ngụ, chị Thắm đến nhà cô Dậu báo cho tôi biết là thầy tôi và một người cháu đã bị bắn chết trong cuộc hành quân này, và anh tôi nhắn tôi phải về gấp để thu xếp một việc quan trọng. Lúc đó anh tôi, hơn tôi 3 tuổi, là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh. Anh là một người có khiếu về hội hoạ, đã nhiều lần chiếm giải nhất về thi làm bích báo nên được tiến cử đảm nhiệm chức vụ này khi anh mới 18 tuổi.

Chị Mai nhất định đòi theo tôi. Có lẽ chị nghĩ rằng để tôi đi một mình thì rất có thể chẳng bao giờ chị sẽ gặp lại tôi nữa. Về đến nhà, tôi được biết bố tôi cùng với em tôi và đứa cháu gọi tôi bằng cậu, vào ẩn núp sau một bụi rậm và bị quân Pháp đứng ngoài thấy động, bắn vào. Bố tôi và đứa cháu bị trúng đạn chết. Em tôi may mắn thoát chết và sau 1975 bị đưa ra Bắc tù đày. Khi ra tù nó và đứa con trai vượt biên thoát sang Mỹ rồi bảo lãnh cho vợ và 2 đứa con gái sang sau.

Anh tôi cho biết người ta mới khuyến dụ anh gia nhập đảng cộng sản nhưng anh không chịu và có thể bị rắc rối. Anh bảo tôi phải thu xếp hồi cư về Hànội ngay.

Cuộc hành trình về đất Mẹ gồm có: Mẹ tôi, vợ chồng người anh với đứa con gái 11 tháng, tôi, em tôi và một vài người bạn gia đình trong đó có chị Mai. Giữa đường anh tôi chết, vì bị thương hàn, không có thuốc men chữa trị, đúng 10 ngày sau khi thầy tôi bị quân Pháp bắn chết. Tôi đã một mình đưa tay móc đất vùi nông thân xác anh ở một nơi góc ruộng mà bây giờ tôi không thể hình dung được là thuộc làng xã nào.

Thế rồi, thời cuộc đưa đẩy, tôi gia nhập trường Võ Bị Liên Quân Đalat, tôi chuyển sang Không Quân, tôi di cư vào Nam, tôi di tản sang Mỹ, tôi bỏ những Ngọng những Hiếng chắc đã bị người ta nhân danh cách mạng biến thành những con vẹt chính trị; những chị Thắm chắc đã bị người ta nhân danh yêu nước tước đi cái vui tươi, hồn nhiên và nhí nhảnh của người con gái Bắc Ninh; và những chị Mai âm thầm, không biết trôi dạt nơi đâu…

Chị Mai ơi, chị đang ở đâu, chị còn sống hay đã theo anh về lòng đất? Dù chị còn sống hay đã theo anh về lòng đất thì khi đứng trước mặt chị hay đứng trước mộ chị, và ngay cả trong lúc này, em vẫn luôn luôn là đứa em bé nhỏ của chị bởi chị là một con người. Không gặp chị, em - một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, trong trắng, dễ tin - có thể đã không còn là em nữa!

(Tưởng nhớ chị Mai - một ngày đầu đông)

Denver, Colorrado Tháng Tư 2011

* * * * * * * *

Tuesday, March 31, 2020

Gọi Nhớ Bốn Mùa - Z

* Gọi Anh Mùa Xuân - Z (Thơ Trần Mộng Tú - Nhạc Anh Bằng - Tiếng hát Diễm Liên)
* Hạ Trắng - Z (Nhạc Trịnh Công Sơn - Tiếng hát Hạ Vân)
* Em Về Mùa Thu - Z (Nhạc Ngô Thụy Miên - Tiếng hất Minh Châu)
* Tuyết Đông - Z (Thơ Hồng Thúy - Nhạc Quýdenver - Tiếng hát Lâm Dung)

Thursday, February 13, 2020

Khát - Z

Thơ Sơn Ca
Nhạc Phương Phạm
Phương Phạm đàn & hát
pps Quýdenver

Thursday, January 17, 2019

Buồn đến bao giờ - Z

Nhạc Lê Uyên Phương
Tiếng hát Trần Ngọc Tuấn
pps Quýdenver

Wednesday, June 20, 2018

Saturday, December 2, 2017

Tuyết Đông - Z

Thơ: Hồng Thúy
Nhạc: Quýdenver
Hòa âm & Trình bày: Lâm Dung
pps: Quýdenver


Wednesday, November 15, 2017

Tình không trói buộc

Thơ: Quýdenver
Tranh thơ: Kim Oanh



Long Hồ Vĩnh Long:
http://longhovinhlong.blogspot.com/search/label/Qu%C3%BDdenver

Sunday, September 17, 2017

Ngọn Nến - Z

Nhạc: Phú Quang
Trình bày: Quang Lý
pps: Quýdenver


“Đó là vào một đêm Nôen của mấy năm trước. Trước đó vài ngày tôi nhận được tin mình bị ung thư. Và bạn biết đấy, nếu bạn nhận được tin mình bị ung thư thì điều đó đồng nghĩa với việc bạn sẽ nhận được tin về một cái chết được báo trước.

Sunday, July 23, 2017

Ngày Ấy - Hôm Nay - Z (Florence Moore - Quydenver)

Being Born Again (Florence Moore)
Nỗi Mình (Nhạc và lời: Quýdenver)
pps: Quýdenver
 

Friday, July 14, 2017

9 Reasons Vietnamese is Easier Than You Think

by George Millo

Just how difficult is the Vietnamese language?

Pretty much impossible, if you ask the Vietnamese themselves. The supposed difficulty of Vietnam's official language is a point of national pride amongst its 90 million inhabitants, and locals are happy to tell you “tiếng Việt khó!” (Vietnamese is hard) at every possible opportunity.

So if you’re learning Vietnamese, or thinking about learning, it’s likely that all you’ve been getting so far is discouragement! In this article, I want to give you an alternate perspective, and offer you some encouragement, because chances are that Vietnamese is easier than you think.