Thursday, September 3, 2020

Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 7

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                    -Quýdenver- 

7. Nhớ về cuộc chiến

Khi còn mài đũng quần trên ghế nhà trường tại Hà nội, tôi có 3 người bạn thân cùng lớp tuy có một người khác trường: Nguyễn Tất Đạt, Trần Thế Thảo(*) và Nguyễn Thị Minh Thúy(*). Năm 53, Đạt vào Không Quân, được gửi sang Pháp học vô tuyến, sau biệt phái làm giáo sư tại trường trung học Quốc gia Nghĩa tử; tôi gia nhập trường Võ Bị Đalạt, thuyên chuyển sang Không Quân sau khi ra trường một thời gian. Năm 54, đất nước chia đôi, tôi và Đạt vào Nam theo nghề nghiệp mình đã lựa chọn; Thảo và Thúy ở lại Hà nội bởi vì “dẫu sao thì mình cũng là người Hà nội, Hà nội là của mình nên không thể bỏ”.

Hơn 20 năm sống trong Nam, gia đình tôi và gia đình Đạt đều cư ngụ tại Saigon, đi lại gập gỡ nhau hàng tuần, còn Thảo và Thúy thì tuyệt nhiên không có tin tức gì. Tháng 4/75, tôi bỏ nước sang Mỹ, Đạt kẹt lại Saigon và chúng tôi mất liên lạc với nhau.

Đầu năm 89, tôi bất ngờ nhận được một thư từ Saigon và vô cùng sửng sốt khi đọc thấy tên người gửi là Thảo và Thúy. Tôi bối rối không dám mở ngay vì không biết Thảo và Thúy nói gì trong thư. Tôi và Đạt hơn 20 năm quốc gia, Thảo và Thúy hơn 20 năm cộng sản, liệu chúng tôi còn đồng điệu là những người bạn thân thương như xưa? Nhưng rồi tôi cũng mở thư, để lại vô cùng sửng sốt, nhưng lần này thì pha lẫn một niềm vui với một nỗi xúc động. “Chẳng có chủ nghĩa nào, chẳng có chế độ nào có thể làm phai mờ được tình bạn giữa chúng ta”. Đó là lời Thảo và Thúy viết trong thư. Thư viết thêm “…ban ngày làm nghĩa vụ nhưng đêm nào tụi này cũng mở radio nghe ca sĩ Lệ Thu và Khánh Ly hát.” Lá thư do Thảo và Thúy viết chung, thay nhau viết mỗi người một đoạn, dài gần 5 trang giấy học trò.

Thảo và Thúy cho biết hai người đã trở thành vợ chồng cuối nam 57. Ở lại miền bắc, Thảo trở thành một cán bộ cao cấp với quân hàm Thượng tá. Cuối năm 75, Thảo được gửi vào Nam tiếp thu Saigon, mang theo vợ và đứa con gái 15 tuổi: Trần Thị Minh Thư. Ngòai những kể lể buồn vui lẫn lộn, trong thư của Thảo và Thúy có những đọan nguyên văn như sau:

“Một ngày cuối đông năm ngoái, trong lúc xuống xe vào một tiệm tạp hóa gần nhà thờ Tân Định, đường Hai Bà Trưng, Thảo tình cờ trông thấy Đạt. Mặc dầu xa cách đã hơn 20 năm nhưng khi trông thấy Đạt, Thảo vẫn nhận ra ngay. Thảo mừng rỡ, chạy đến định ôm lấy Đạt nhưng Đạt chỉ đưa mắt nhìn ngơ ngác như không hề quen biết rồi lẩn vào một đám đông. Thảo chợt nghĩ đến bộ quân phục và đôi lon Thượng tá của mình, cho rằng có lẽ vì vậy mà Đạt e ngại nên lẩn tránh. Tương kế tựu kế, Thảo chạy xông tới trước mặt Đạt, ra lệnh: ‘Anh tên gì, ở đâu? Đưa giấy tờ tôi xem!’ Đạt sợ hãi, móc túi đưa giấy tờ, không dám ngước mắt nhìn Thảo…”

“Quý có biết không? Ngay tối hôm đó, tụi này kéo nhau đến nhà Đạt. Thảo mặc áo trắng cũ màu cháo lòng, quần màu cứt ngựa. Thúy mặc áo cánh trắng, quần đen. Không cần nói chắc Quý cũng rõ đó là những y phục thân quen của chúng mình khi trước. Sau vài phút ngỡ ngàng, tụi này và Đạt lấy lại được sự tự nhiên và mối thân tình còn thắm đậm hơn xưa nữa. Vợ Đạt là người mừng vui nhất trong đám. Ngân, đứa con gái thứ hai của Đạt, cũng vui không kém. ‘Nếu không có cuộc chiến thắng tháng tư của các ông thì nó là đứa con dâu của ông bà Trung tá Không Quân Nguyễn Văn Quý đấy!’ Vợ Đạt chỉ Ngân và nói với tụi này như vậy….”

“Vợ Đạt và mấy đứa con nhất định giữ tụi này ở lại ăn cơm. Tội nghiệp, gia đình ông giáo sư Đạt của chúng ta nghèo quá. Bữa cơm tối đó chỉ có một đĩa rau xào mỡ, mươi cái đầu tôm rang mặn và bát canh cà chua loãng, nhưng mọi người đều thấy ngon miệng….”

“Bây giờ, sau hơn một năm, nhờ chút quyền lực trong tay, tụi này đã giúp mua cho Đạt một tiệm tạp hóa nhỏ tạm đủ cho gia đình Đạt kiếm sống qua ngày, và tụi này cũng lấy đó làm một niềm vui.... Thư sau sẽ cho biết làm cách nào tụi này có được địa chỉ của Quý ở Mỹ…”

Kể từ ngày đó, bốn đứa chúng tôi liên lạc với nhau rất thường xuyên, chia ngọt sẻ bùi với nhau. Chúng tôi nói với nhau về những ngày cuối tuần xa xưa khi còn ở Hà nội: rủ nhau đến Văn Miếu để ôn bài, đến bến Nghi Tàm, Rặng Ổi để dìm nhau xuống nước; kéo nhau đến bờ hồ ăn bánh tôm, uống nước dừa; đèo nhau trên xe đạp về làng để thả diều, cưỡi trâu, bắt châu chấu, đuổi bướm, bắn chim, hay ngồi hóng gió dưới bóng cây đề và nghe một ông bác kể chuyện… Chúng tôi diễu nhau về chủ nghĩa này chủ nghĩa khác, chế độ nọ chế độ kia. Chúng tôi gọi nhau là Thượng tá, Trung tá mà thấy thích thú, chẳng sợ đứa nào buồn đứa nào. Đối với chúng tôi, chủ nghĩa gì, chế độ gì cũng chỉ là cái lăng nhăng; Thượng tá, Trung tá chỉ là đồ vứt bỏ. Chúng tôi hãnh diện, tự hào trong niềm hãnh diện, tự hào đơn sơ mộc mạc là thằng Quý thằng Đạt quốc gia, là thằng Thảo con Thúy cộng sản!

Nhưng, hình như trong gập gỡ vốn đã có sẵn mầm mống cũa chia phôi, và chia phôi đã đến. Giữa năm 93, Thảo và Thúy báo tin vợ Đạt bị tai nạn xe chết giữa đường lên Đalạt. Coi mấy tấm hình chôn cất vợ Đạt, vợ tôi và tôi đã bật khóc thành tiếng, nức nở. Chưa đầy một năm sau, Thảo và Thúy lại báo tin Đạt chết ngày 21 tháng 4, 94 vì bệnh tim, đồng thời cho biết sẽ trở về Hà nội và có thể ở lại Hà nội, không vào Nam nữa.

Thế rồi, Thảo và Thúy bặt tin, không liên lạc gì với tôi, và thư tôi gửi đi thì không thấy hồi âm. Cả thế giới như sụp đổ trước mặt tôi. Tôi đi tìm bạn mới trong cái thế giới tỵ nạn quanh tôi, nhưng ai là bạn mà tìm, tìm được ai là bạn? Tôi làm thơ, tôi sọan nhạc, nhưng thơ thì dở dang, nhạc thì lỗi nhịp .

Cho mãi đến ngày 24 tháng 4, 97, ngày sinh nhật của tôi, tôi nhận được bức điện tín của hãng Western Union chuyển tiếp tin đánh đi từ Hà nội với nội dung như sau: “Kính thưa bác Quý - stop - Ba cháu mất ngày 20/4/96 sau gần một năm bán thân bất tọai - stop - Mẹ cháu mất ngày 25/4/97 - stop - Ngày 25 tại VN tức 24 tại Mỹ đúng ngày sinh nhật của bác - stop - Mẹ cháu nói vậy trước khi người nhắm mắt ra đi - stop & Fin.”

Sau khi đọc bức điện tín trên, tôi thấy lòng bình thản một cách kỳ lạ, nhưng có những đêm khi thức dậy thấy gối ướt dầm dề để rồi sau đó nghe vợ tôi an ủi: “Thấy anh trằn trọc, em biết anh nghĩ gì.” Đạt đã ra đi, Thảo và Thúy đã ra đi, không điếu văn, không phủ cờ. Một ngày nào đó, rồi cũng sẽ đến lượt tôi. Tôi cũng đã viết chúc thư: không điếu văn, không phủ cờ, chỉ có những giọt thầm trong tâm, giản dị tự nhiên như ngày tôi ra đời.

Một điều thật kỳ lạ là cả 3 người bạn thân thương của tôi đều hẹn nhau bỏ tôi vĩnh viễn ra đi vào những ngày kế cận sinh nhật của tôi. Kể từ năm 97 ấy, đã nhiều năm rồi, năm nào cũng vậy, cứ vào dịp này, tôi lại không thể không nghĩ đến 3 người bạn thân thương suốt chiều dài một đời người đó. Tôi nẩy ra một ý nghĩ, tôi sẽ cố tìm cho đươc một câu chuyện đẹp, kể cho vài người bạn thân nghe và cũng là để tưởng niệm đến 3 người bạn thân thương của tôi.

Lại một tháng tư nữa…

Không phải đợi đến ngày Tướng Nguyễn Cao Kỳ về thăm Việt Nam, tôi mới nghĩ tới cuộc chiến cách nay 30 năm để nhận thấy rằng đúng ra cuộc chiến đã không nên có. Cuộc chiến thần thánh chống thực dân Pháp trước đó đã được những tên phù thủy chính trị phù phép biến hóa thành một cuộc nội chiến phi dân tộc, kéo dài mấy chục năm, mà cả hai bên đều trông nhờ vào thế lực, tiền tài, súng ống của ngoại bang. Một cuộc chiến như thế thì sự kết thúc của nó cũng chẳng có gì gọi là vinh cho kẻ thắng và nhục cho người thua. Có chăng, người thua cũng như kẻ thắng nên ý thức rõ thân phận nhược tiểu của mình mà quên đi những sai lầm trong quá khứ, tìm cách nắm tay nhau, làm những việc khác hơn là tiếp tục say sưa trong men chiến thắng hoặc khư khư ôm lấy mối hận thua cuộc. Bài học thực tế và đau đớn của nước Mỹ - nhận thức sự sai lầm của cuộc chiến - đã khiến cho những ai còn lưu tâm đến vấn đề đất nước phải suy nghĩ không ít. Trong bối cảnh đó, nếu có người nói "cuộc chiến bẩn thỉu" thì cũng chỉ là điều khiến sự suy nghĩ của mình càng thêm thấm thía mà thôi.

Tôi liên tưởng đến cuộc tiếp xúc giữa bà Oriana Fallaci, một tên tuổi lớn trong làng báo chí thế giới, với Tướng Nguyễn Ngọc Loan, một ông tướng đã làm nhiều ông tướng khác run sợ, tại bệnh viện Grall, nơi tướng Loan nằm điều trị vết thương bị đạn gẫy chân. Trong cuộc tiếp xúc này, Tướng Loan đã nhắc lại lời nói của ông với bà Oriana Fallaci ("Cuộc sống, cuộc chiến tranh và rồi…" do Lê Minh Đức dịch, Hồng Lĩnh xuất bản):

“- Hôm đó, tôi đã nói với bà, chắc bà còn nhớ: Tôi sinh ra không phải để làm lính, làm cảnh sát, tôi không thích chiến tranh. Đúng vậy. Một số người thấy được kích thích trong chiến tranh, họ thấy thích đánh nhau, nhưng tôi thì không. Trong chiến đấu tôi chỉ thấy sợ hãi, sợ trước trận đánh, sợ sau trận đánh… Tôi chán ghét nghề của tôi, tôi luôn chán ghét nó, thật kinh khủng khi phải làm cái nghề mình không thich, cứ mơ ước được mặc quần áo dân thường, xa cái nghề này hàng ngàn cây số… Tôi căm ghét những bộ quân phục. Tôi căm ghét cả tấm chăn đắp này! (tấm chăn quân sự).”

“- Tôi vào quân đội ngòai ý muốn: tôi là một người yếu đuối, tôi không dám từ chối với bạn bè. Đã nhiều lần tôi muốn chốn đi. Đi xa… Thái Lan, Philippines, Nhật Bản, Malaysia, bất kỳ đâu người ta chịu tiếp nhận tôi cư trú. Nhưng sau đó thì tôi tự bảo không, tôi không thể làm như vậy, tôi không được làm như vậy. Tôi đã dính líu quá nhiều vào cuộc chiến này. Tôi đã bắt buộc ở lại đây, bằng mọi giá. Tôi không bao giờ còn có thể trốn đến một nơi yên tĩnh, với âm nhạc, với thơ, với hoa hồng của tôi nữa rồi… Tôi bây giờ không còn đáng kể gì nữa rồi, tôi không còn quyền lực gì nữa, nhưng tôi muốn nói với tướng Giáp, tôi muốn nói với ông Hồ Chí Minh: “Chúng ta hãy thỏa thuận với nhau đi.”

Cuộc chiến nào thì cũng dễ khiến cho con người trở nên độc ác. Đã có bao nhiêu người trong chúng ta muốn nói như tướng Loan? Đã có bao nhiêu người trong chúng ta bị xô đẩy vào một cuộc chiến mà đúng ra không nên để xảy ra?

“...Con người đang nằm trước mặt tôi hôm nay”, bà Oriana Fallaci viết thêm về Tướng Loan, “là một con người khác, khác đến nỗi tôi không còn thấy xấu xí nữa. Và có lúc, tôi còn thấy đẹp là khác.”

Tôi không có khiếu thẩm mỹ, tôi cũng không phải là người có khả năng nhận xét sự việc một cách sâu sắc nên không dám khen đẹp chê xấu. Tôi chỉ thấy lòng mình dâng lên một nỗi xúc động thật mãnh liệt khi viết lại những dòng chữ này.

Denver, Colorado, tháng Tư 2000

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 8 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                   -Quýdenver- 

8. Nghĩ về tình người

Anh LĐTh và tôi cùng theo học Khóa 10 Võ Bị Dalat. Trong giai đoạn thực tập tại Đồ Sơn ngoài Bắc trước khi mãn khóa, anh và tôi được thu xếp thực tập chung trong một trung đội vũ khí nặng. Lần đầu tiên tôi gặp lại anh kể từ sau ngày mãn khóa và được biết chị là tại Denver, Colorado khi anh cùng chị đến tạm định cư tại đây mươi năm về trước. Tôi nói tạm định cư vì anh chị cho biết sẽ chỉ ở đây ít năm rồi xuống Texas hay sang California. Anh chị và vợ chồng tôi trở thành những người bạn thân thiết, thường gập gỡ chuyện vãn về mọi thứ chuyện lỉnh kỉnh. Trong lúc chuyện trò như thế, tôi cảm thấy như có cái gì hơi mâu thuẫn ở anh chị: Anh chị rất mộ đạo Phật và là 2 Phật tử thuận thành. Anh chị cho biết tối nào cũng tụng kinh và cầu an cho vợ chồng tôi, nhưng đồng thời cũng thường tỏ lộ mối thù hận tột độ còn giữ trong lòng. Nhân khi chị gửi cho tôi một số thơ văn, tôi đánh liều viết một thư dài hồi âm anh chị.

Ngày 6 tháng 5, 2000
Anh chị Th. thân mến,

Tôi đã nhận được thư chị, nhận được những món quà “Một trái tim của Bích Khê Thôn”, “Gói quà năm 77”, “Chuyện ngày xưa”, “Khó quên” và nhận được cả “Vậy mà phùng mang!” Tôi nhận được những món quà trên hôm thứ ba, 2 tháng 5 năm 2000. Vì bận phải thu xếp một vài việc quá gấp, tôi mới chỉ đọc qua một lần rồi tạm cất đi, không cả kịp cho nhà tôi biết. Hôm nay đọc lại, tôi thấy món quà nào của chị cũng mang đến cho tôi nỗi xao xuyến, bồi hồi khó tả, nên muốn dành nguyện vẹn cuối tuần này để hồi âm anh chị. Nếu sự chia sẻ là một hạnh phúc hay ít ra cũng là một niềm an ủi đối với một người bạn thì đó là tất cả những gì tôi có thể làm và gửi đến anh chị.

Trước hết, tôi xin chia sẻ cùng anh chị nỗi nhục nhằn, cay đắng anh chị đã trải qua trong mấy chục năm trường. Tôi không dám cầu mong anh chị quên đi những điều không thể quên, mà cầu mong nỗi cay đắng, nhục nhằn đó sẽ chỉ còn là những kỷ niệm tô điểm cho cuộc đời thêm phong phú. Nếu không trải qua những đau khổ xa xưa đó thì làm sao có thể nhận thức được chân giá trị của hạnh phúc hôm nay?

Liền nhanh tay đổi ngược
Bỏ xuống gói áo quần
Đưa lên bao thực phẩm
Lâm râm miệng khấn thầm…

Đọc mấy câu thơ này, tôi không sao ngăn được mối thương cảm dâng lên trong lòng. Tôi hình dung thấy một người thiếu phụ đầy thương tội, mặt mày hốc hác, thân xác tiêu điều, nhìn ngang liếc dọc, chỉ sợ người khác bắt gặp mình tráo đổi món quà gửi cho người chồng đang khốn khổ trong trại tù đày. Chẳng qua cũng chỉ vì “Đói lấy gì cầm hơi” mà thôi! Bất giác, tôi nghĩ nhiều đến lòng thương yêu của con người. Hình như, khi có được lòng thương yêu thì người ta làm gì cũng được.

Chị làm thơ 5 chữ rất hay. Tôi thấy thơ 5 chữ khó làm vì số chữ bị giới hạn nên sự diễn tả cần phải cô đọng. Tôi rất thích 4 đoạn thơ chót trong bài “Vậy mà phùng mang”. Việc lập đi lập lại nhiều lần cái tên “Hồ Văn Tín” đã làm cho cái phùng mang càng phùng to lên, cái lố bịch càng lố bịch hơn, và cái bẽ bàng càng bẽ bàng thêm:

Một người tù đứng dậy:
‘Cán bộ cho tôi xem
Không phải Hồ Văn Tín
Chữ này Họ và Tên!’

Thì ra thế! Có ai đọc qua mà không cảm thấy thích thú?

Từ đó vắng anh con thiếu cha
Vai em không gánh nổi sơn hà…

Có phải đây chỉ là một lời nói khiêm nhường? Cái sơn hà chị gánh vác vẫn còn đó, vũng mạnh hơn bao giờ, tuy đã có lúc ngả nghiêng, xiêu vẹo. Cái nghị lực vô biên của người vợ Việt Nam thương chồng , một người mẹ Việt Nam thương con chẳng gì có thể so sánh được! Cho nên, bất cứ lúc nào tôi cũng có thể nói lên lòng ngưỡng mộ của mình đối với những người vợ, người mẹ Việt Nam mà không cho rằng lời nói mang tích chất cường điệu.

Trên tất cả vẫn là “Chuyện ngày xưa”. Vói tôi, “Chuyện ngày xưa” là một làn gió nhẹ, một thoáng mát. Cũng có thể là một buổi sớm sương mờ bâng khuâng, một buổi chiều mưa nắng ngập ngừng. Giá cuộc đời chỉ có những làn gió như thế, những thoáng mát như thế! Giá tháng năm chỉ có những buổi sớm như thế, những buổi chiều như thế! Tìm đâu, biềt tìm đâu bây giờ? Phải chăng ngày tháng đã già nua và lòng mình cũng già nua nên không còn nhận thức được, không còn tìm thấy nữa? Hay phải chăng con người đã quên mất những làn gió ấy, những thoáng mát ấy, những buổi sớm ấy, những buổi chiều ấy như đã quên mất tình mình, tình người?

Lời văn của chị trong “Một trái tim của Bích Khê Thôn” cũng thật là mượt mà, chân thật. Cái mượt mà, chân thật có sức quyến rũ người đọc, ít ra là đối với một người đọc như tôi. Kể ra thì lời nói, câu viết của ai về người mẹ mà lại không mượt mà? Chỉ một tiếng Mẹ thôi cũng đủ là một bài thơ hay, một bài văn tuyệt vời rồi. Chỉ một tiếng Mẹ thôi cũng đã là cả một bầu trời bao la thăm thẳm, môt biển rộng mênh mông rồi. Điều đáng nói thêm ở đây là cái chân thật trong lời nói, trong câu viết của chị. Thiếu chân thật thì tất cả những lời nói, những câu viết đều trở thành tẻ nhạt, ngây ngô, trống rỗng.

Đến đây, tôi bỗng nhớ đến một cái gì rất mơ hồ nhưng cũng rất rõ nét, rất gần gũi mà như rất xa xôi. Tôi loay hoay chạy ra chay vô, chạy lên chạy xuống… Sau cùng, tôi chạy đến nhìn giây lát vào đôi mắt Mẹ tôi trong bức hình trên bàn thờ, rồi đến tủ sách, mở ngăn kéo lục tìm tờ điện tín. Đó là tờ điện tín của đứa em dâu có người chồng lúc đó đang bị tù đày gần biên giới Tàu-Việt, từ Việt Nam gửi sang, tuy cũ nhưng vẫn không nhầu nét: “Mẹ mất lúc 16:15 ngày 28-06 Tân Dậu. Kỳ Trân.” Mắt tôi mờ đi, nhớ về một buổi chiều 19 năm trước, một buổi chiều năm Tân Dậu, một buổi chiều 1981, một buổi chiều không giống bất cứ buổi chiều nào trong suốt cuộc đời tôi:

“Lạy Mẹ, 17 ngày đã trôi qua kể từ ngày Mẹ nằm xuống. Hôm nay, 7 đứa con cháu của Mẹ xin cùng nhau quỳ lạy Mẹ……”

Mẹ tôi có 4 người con trai nhưng không có người nào có mặt bên cạnh để vuốt mắt Người. Mẹ tôi chết cũng không được yên. Mồ mả ở Vĩnh Long được lệnh phải rời đi nơi khác, mấy năm mà không thu xếp xong. Vừa tìm mua được đất, định rời đến thì lại có lệnh không được dùng khu đất ấy nữa. Mãi tới tháng Tư năm 1998 mới đưa được hài cốt Người về nghĩa trang liên xã Gò Dưa ở Thủ Đức. Tháng Tư, vâng, tháng Tư vẫn là tháng có nhiều duyên nợ đối với tôi. Tôi sinh ra trong tháng Tư, tháng Tư đen, tháng Tư trắng, tháng Tư hạnh phúc, tháng Tư chia lìa…

Sau cùng, tôi xin chia sẻ cùng anh chị mối hận thù anh chị không thể quên đối với những người đã mang tai họa đến anh chị. Người ta mang tai họa đến mình thì mình phải hận thù. Đó là một thái độ bình thường, chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, tôi đã suýt mất một người em ruột thương yêu cũng vì vấn đề này, nên chỉ xin được chia sẻ cùng anh chị thôi. Nhân nói đến hai chữ hận thù, tôi xin kể anh chị nghe câu chuyện tôi đã đọc thấy ở đâu đó. Thú thực với anh chị, cứ mỗi lần bắt gặp một câu chuyện tương tự, dù xuất phát từ đâu, từ phía nào, tôi lại không cầm được nỗi xúc động trong lòng:

"Ông Richard Luttrell, 51 tuổi, nhân viên Sở Cựu chiến binh Tiểu bang Illinois, đã bị dằn vặt suốt 33 năm trời vì một tấm hình. Đó là tấm hình chụp một em gái đứng cạnh người cha, một lính Bắc Việt, mà ông đã bắn chết năm 1967 trong cuộc tuần tiễu tại một vùng rừng núi Việt Nam. Lúc đó, ông Luttrell chỉ là một binh nhì Lục quân Mỹ, 18 tuổi. Ông nghĩ, khi một người cha mang theo ra trận tấm hình đứa con, ắt hẳn người cha đó phải thương yêu đứa con của mình nhiều lắm. Bây giờ người cha đã bị ông bắn chết, ai là người sẽ chăm nom nuôi nấng đứa con?

Ông Luttrell giữ tấm hình suốt 22 năm cho đến năm 1989, ông để tấm hình trong khe một tảng đá tại Đài Kỷ niệm Cựu chiến binh Mỹ trong trận chiến Việt Nam tại Washington DC, với lời xin lỗi người lính đã bị ông bắn chết. Năm 1996, một người bạn là Dân biểu Tiểu bang, Ron Stephens, bất ngờ thấy tấm hình trong một tập sách liệt kê những vật dụng bỏ ở Đài Kỷ niệm và nói cho ông Luttrell hay. Ông Luttrell lấy lại tấm hình, định bụng sẽ tìm kiếm đứa em gái trong tấm hình để đích thân xin lỗi.

Tin tức được loan truyền đến Việt Nam và người ta đã tìm ra đứa em gái đó, bây giờ là người đàn bà 42 tuổi tên Nguyễn Thị Lan. Bà Lan đã có 2 người con. Ngày 4 tháng 3 năm 2000, ông Luttrell đã cùng vợ mang tấm hình sang Việt Nam để gặp bà Nguyễn Thị Lan. Trong cuộc gặp gỡ, bà Lan cho biết bà đã đau khổ biết bao khi cha bà bị bắn chết, bà đã trải qua những ngày tháng nhục nhằn biết chừng nào vì thiếu người chăm sóc, nhưng bà không hề thù hận ông Luttrell, người đã bắn chết cha bà. Tất cả cũng chỉ là do định mệnh. Tất cả cũng chỉ là do những cái ngoài tầm tay mình."

Trước đây vài ba năm, ngay tại Colorado này, tôi bị một số người, từng có lúc coi nhau là bạn, chụp mũ là định ăn cắp máy bay trốn ra Bắc và được Công trường 7 công sản gài sang Mỹ để phá rối cộng đồng. Tôi ghê tởm họ, thương hại họ, xa lánh họ nhưng tuyệt nhiên không thù hận họ. Từ lâu, ngay cả từ khi còn nhỏ, điều tôi sợ nhất là sự hận thù. Thù thì phải trả và khi trả thù người ta có thể làm bất cứ cái gì kể cả những cái không thuộc về con người. Còn nếu không trả thù thì lại sợ mang tiếng hèn nhát. Rút cục, vì cái mặc cảm sợ mang tiếng hèn nhát mà người ta cứ nhìn quanh xem ai có chút sơ hở là chụp mũ, dẫu cho người đó có lúc là bạn mình. Dám chụp mũ mới là người có khí phách, mới là người anh hùng, mới là người không hèn nhát, mới là người… quốc gia chân chính! Nghĩ cho cùng, nếu không làm cái trò chụp mũ vừa dễ dãi, vừa rẻ tiền đó thì những người này còn biết làm cái gì nữa!

Đáng lý, tôi không nên làm bận tâm anh chị với những điều vừa kể bởi vì anh chị có thể mắng tôi là đã trốn chạy sớm, có bị tù đày nhục nhằn đâu mà hiểu được mối hận thù của anh chị. Rất có thể, trước mắt anh chị tôi còn là một tên “giao lưu văn hóa”, “hòa hợp hòa giải”, và rơi vào “vòng tay nới rộng” nữa cũng nên. Nhiều lúc, tôi cứ thắc mắc tại sao những từ ngữ đẹp đẽ lại chỉ phát xuất từ phía bên kia? Tại sao phía mình lại phải tránh né và chỉ dùng toàn những từ ngữ đầy hận thù sắt máu? Tại sao phía mình lại không có cái đảm nói thẳng rằng giao lưu văn hóa, tốt lắm; hòa hợp hòa giải, tốt lắm; nới vòng tay rộng, tốt lắm, nhưng giao lưu văn hóa như thế nào, hòa hợp hòa giải như thế nào, nới vòng tay rộng như thế nào mới được chứ! Phải chăng cũng lại chỉ vì cái mặc cảm thua kém, không dám đối đầu?

Riêng tôi, tôi có một niềm tin sắt đá là sớm muộn gì công sản cũng sẽ tiêu tan, dưới một hình thức nào đó, chứ nhất định không phải tiêu tan vì sự hận thù của những người bên này.

Đã là người thì ai cũng có lúc đau khổ, khác chăng là mỗi người có cái đau khổ riêng mà không thể nói cái đau khổ nào đau khổ hơn cái đau khổ nào. Dẫu sao, nỗi đau khổ của chúng ta cũng đã qua, vơi nhẹ nhiều rồi. Ngay bây giờ, hôm nay, bên cạnh chúng ta, ở Colorado này, vẫn có những ngưòi đang đau khổ chẳng kém gì cái đau khổ trước kia của chúng ta. Trước sự quay lưng ngoảnh mặt của người đời, trước nỗi đau khổ vô cùng tận, có người đã muốn buông xuôi, tuyệt vọng. Trong cái nhỏ bé của mình, trong cái bất lực của mình, trong nỗi cô đơn của mình, tôi có thể làm được gì cho họ đây? Thôi thì, chỉ còn biết dành ít thì giờ chia sẻ với họ, an ủi vỗ về họ mà không màng đến lời dị nghị của những người chung quanh. Tất cả cũng chỉ do mấy con ngáo ộp, trợn mắt phùng mang; những con ngáo ộp trong nước mà chị đã nghe, những con ngáo ộp hải ngoại mà tôi đã thấy, trong bản chất, nào khác gì nhau đâu!

Thư đã dài. 25 năm nay tôi chưa hề viềt cho một người nào lá thư dài như thế này. Mai đây anh chị đi xa, ít nhiều cũng “xa mặt cách lòng”, không biết tình mình, ý mính còn có đậm đà? Như anh đã nói: “hãy nói với nhau khi còn nói được, nghe được” nên tôi dành trọn cuối tuần viết thư này gửi anh chị. Tôi có tật xấu là khi nói hay nói dai, nhất là đối với những người đáng nói tôi hằng qúy mến. Với người đáng nói mà không nói là bỏ mất người. Với người không đáng nói mà nói là phí lời. Tôi sợ mất anh chị nên tôi nói, nhưng liệu tôi nói thì cũng có giữ được anh chị không?

Sau khi bỏ nước ra đi, cuộc sống của tôi chỉ còn thu gọn vào 2 chữ tình nghĩa. Tình cha mẹ con cái, tình anh em chị em, tình vợ chồng, tình bằng hữu, tình giữa người với người… Tôi nghĩ, bây giờ chỉ có cái tình đối với nhau là cứu rỗi được chúng ta mà thôi.

Kể từ ngày gặp lại anh và quen biết chị, tôi ngưỡng mộ cái tình cái nghĩa trong cuộc sống lứa đôi của anh chị, lúc nào cũng như đôi chim bồ câu. Nhà tôi thì chất phác hiền hòa, chỉ biết lo cho chồng con miếng cơm manh áo. Đó là cái diễm phúc tôi có. Mỗi khi thay bộ quần áo mới thấy thơm tho, tôi hiểu mùi thơm đó là do nhà tôi chắt chiu gìn giữ cho tôi. Mỗi khi ăn miếng cơm thấy ngon, tôi biết trong miếng ngon đó có cả một tấm lòng ân cần, vun quén của nhà tôi.

Anh chị Th. thân mến,

Qua những sự việc xảy ra hàng ngày, trước mắt, sau lưng, bên phải, bên trái, phía trên, phía dưới, tôi đâm ra nghi ngờ đủ thứ. Tôi nghi ngờ không biết anh chị có đủ kiên nhẫn đọc hết thư này? không biết anh chị có đọc thư này với một tấm lòng rộng lượng? Có người cho là ly nước nửa vơi, có người cho là ly nước nửa đầy, nhưng cũng có người cho là chẳng phải vơi hay đầy mà là cái ly quá lớn. Nếu anh chị đọc thư này trong cái ý nghĩa đó thì tôi sẽ an tâm và sung sướng vô vàn. Bằng không, xin anh chị thứ lỗi cho.

Tôi tạm dấu, không cho nhà tôi biết nội dung thư này, bởi tôi biết có nhiều đoạn trong thư nhà tôi không muốn tôi viết. Còn tôi, tôi lại không thể dối lòng đối với những người tôi coi là bạn. Nói hay không nói chứ không muốn thốt ra những lời chỉ có tính cách vuốt ve, khách sáo. Thực tình, tôi thấy có bổn phận phải đáp lại mối chân tình anh chị đã dành cho chúng tôi qua những thư từ liên lạc mới đây. Tôi vốn là người lười viết thư vì không biết viết gì, thế mà khi viết cho anh chị thì ý tưởng cứ theo nhau tuôn trào.

Cả đời, tôi không dấu nhà tôi bất cứ chuyện gì. Vài tuần sau tôi cũng sẽ nói cho nhà tôi biết về những điều tôi viết gửi anh chị hôm nay để rồi nghe nhà tôi nói một câu vừa như trách móc vừa như thông cảm: “Thế mà anh không cho em hay!”

Sau hết, xin cám ơn anh chị đã mang đến cho tôi một cơ hội để tưởng nhớ về người Mẹ yếu dấu của tôi.

Với tất cả lòng thương quý của tôi và nhà tôi.
Nguyễn Văn Quý

Đã 30 năm, không, đã 50 năm và nhiều hơn nữa! 

Việt Nam tuy đã thống nhất nhưng nhân dân vẫn lầm than do những sai lầm trầm trọng trong việc trị nước của những người chỉ biết “làm tình với thây ma chiến thắng” (ngôn từ Dương Thu Hương) để vơ vét cho đầy túi tham. Trong khi ấy, những người Việt tại hải ngoại thì lại kèn cựa chống đối nhau hơn là ngồi lại với nhau để tìm phương cách cứu dân cứu nước.

Lòng người vẫn trai đá, đầu óc vẫn đóng sạn, tư duy vẫn quánh đặc, hận thù vẫn triền miên. Biết bao giờ, biết đến bao giờ?...

Denver, Colorado, tháng Tư 2000

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 9 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
        -quýdenver múa bút-

9 - Một chặng đường “xế-nhờ” (senior)


Kể từ ngày gọi là bắt đầu cuộc sống “xế- nhờ”, giữa vợ chồng hắn có thêm nhiều lủng củng. Nói là “thêm nhiều” bởi vì trước kia vợ chồng hắn vốn đã có những lủng củng rồi. Chỉ cái cụm từ “quýdenver múa bút” (dù là không viết hoa) mà vợ chồng hắn cũng lủng củng với nhau suốt cả một buổi chiều.

- Tại sao lại “múa bút”? Anh viết như thế không sợ người ta chê là kênh kiệu à?”

- Mình không phải là người viết văn/làm thơ, nói chung, không phải là người cầm bút, không biết cầm bút... Không phải là người cầm bút, không biết cầm bút thì chỉ còn là người “múa bút” chứ biết gọi là gì nữa.

Vợ hắn có cái tính rất dễ ghét mà cũng rất dễ thương là nghe hắn nói gì, thấy hắn làm gì cũng phản đối cái đã, nhưng rồi sau cùng cũng chiều hắn, mọi chuyện đâu lại vào đó.

Không phải chỉ một lần, mà lần nào đến ông bác sĩ già chưa ra già, trẻ không hẳn trẻ ấy để khám bệnh, hắn cũng được ông khuyên là phải “jogging”.

- Jogging tốt lắm ông ạ. Mỗi ngày chỉ cần jogging chừng nửa tiếng đồng hồ thôi. Nếu ông chịu khó tiếp tục đều như vậy thì chỉ trong vòng nửa tháng ông sẽ cảm thấy tâm trí thoải mái hơn, trí tuệ minh mẫn hơn, ăn uống ngon miệng hơn, đêm ngủ yên giấc hơn, chân tay co duỗi dễ dàng hơn, và… nếu ông kéo thêm được bà xã đi theo để thủ thỉ chuyện này chuyện nọ thì chẳng còn gì tuyệt bằng.

Nghe ông bác sĩ khuyên, hắn khoái, muốn bật cười thành tiếng nhưng nhớ đến câu nói của vợ, hắn lại thôi:

- Em thấy có lúc anh cười mà như không phải cười, miệng cứ méo xẹo, trông thật tội nghiệp.

Phải nói ngay để tránh hiểu lầm (cụm từ “tránh hiểu lầm” được dùng đến khá nhiều nhưng hình như hiểu lầm vẫn không tránh được !) rằng cái ông bác sĩ ấy đối với hắn là chỗ quen biết từ lâu, tuy không phải là đôi bạn thân thiết nhưng cũng đủ thân để có thể nói với nhau đôi câu đùa cợt mà không sợ làm phiền lòng nhau. Vì là chỗ quen biết nên mỗi khi khuyên hắn điều gì ông bác sĩ thường tế nhị, pha thêm tí đùa cợt có lẽ là để cho người chỉ có tú tài 1 như hắn được thoải mái - một điều mà nhiều người có bằng cấp đầy mình khác không học được, hay đã học nhưng lại quên mất. “Bằng cấp là tất cả những gì còn lại sau khi đã quên hết những gì học được ở nhà trường!”. Đã chẳng có người nói như vậy đấy sao.

Hắn vốn hay đa nghi, không phải do tính bẩm sinh từ khi lọt lòng mẹ mà là khởi đi từ những điều mắt thấy tai nghe xẩy ra hàng ngày trong cái gọi là cộng đồng tỵ nạn nơi xứ lạ quê người này. Có người thêm vào 2 tiếng “chính trị” - tỵ nạn chính trị - cho nó oai phong, hoành tráng thêm một tí. Cái tính đa nghi ấy đã khiến hắn chần chừ mãi, nhưng rồi suy đi tính lại: là con bệnh hắn không nghe bác sĩ thì nghe ai?

Thế là hắn dắt vợ đi shopping, sắm giầy, sắm quần, sắm áo. Đến chỗ trưng bày quần áo jogging của phụ nữ, hắn lựa một bộ rồi đưa cho vợ:

- Anh thấy bộ này màu trang nhã, em mang vào fitting room đề thử xem sao.

- Cái gì? Ai mà mua mấy cái của khỉ ấy, mua để làm gì? Em không thử đâu.

- Em cứ lẫn lộn giữa người với khỉ, nhìn đâu cũng thấy khỉ. Cái này đâu phải là của khỉ mà là của người đấy. Thế em không nghe ông bác sĩ khuyên anh phải jogging và nếu kéo được em đi theo thì chẳng còn gì tuyệt bằng đấy sao?

Thì đã bảo, vợ hắn có cái tính rất dễ ghét mà cũng rất dễ thương là nghe hắn nói gì, thấy hắn làm gì cũng phản đối cái đã, nhưng rồi sau cùng cũng chiều hắn, mọi chuyện đâu lại vào đó.

Thế rồi, cuộc đời vợ chồng hắn lững lờ trôi chảy với nhũng buổi sớm “jogging”, với những câu chuyện thủ thỉ. Cũng có nhiều bữa đực bữa cái với những câu chuyện thủ thỉ ngô chẳng ra ngô, khoai chẳng ra khoai, nhưng hắn cho đó là chuyện nhỏ. Thực ra, vợ chồng hắn cũng chẳng có chuyện gì nhớn để thủ thỉ với nhau, hay nếu có thì những chuyện nhớn bây giờ của vợ chồng hắn cũng không ngoài việc hỏi han nhắc nhở nhau mấy câu lỉnh cà lỉnh kỉnh: “ngủ được không, uống thuốc chưa, chân còn đau không, hết sổ mũi chưa?”….

Từ ngày bắt đầu cuộc sống “xế-nhờ” vợ chồng hắn đến thăm bác sĩ nhiều hơn và thuốc mua về cũng nhiều hơn. Mỗi lần nghe vợ nhắc nhở uống thuốc hắn lại đến tủ thuốc (nói là tủ thuốc cho nó sang nhưng thực ra chỉ là cái bàn ngủ kê bên cạnh đầu giường), mở ngăn kéo, bới đống chai lọ ngổn ngang rồi loạng quạng tìm cặp kính, mở chai này, đóng lọ kia…

- Anh ơi, cái cặp kính ở ngay trước mặt kia kìa, chai thuốc xanh chứ đâu phải lọ thuốc vàng.

Hắn có một trí nhớ rất kém, chẳng bao giờ nhớ được tên thuốc. Cũng may là những thuốc bác sĩ kê cho hắn đều có những hình dạng, màu sắc khác nhau. Thôi thì, cứ gọi là thuốc xanh, thuốc vàng, thuốc tròn, thuốc vuông cho nó tiện.

Hắn với tách nước trà vợ hắn vẫn thường pha cho hắn mỗi buổi sáng, đưa thuốc vào mồm uống rồi tháo gỡ cặp kính. Chưa kịp đặt xuống thì vợ hắn nhắc:

- Đừng để đấy rồi lại đi tìm, anh ơi.

Vợ hắn vẫn gọi hắn bằng tiếng anh. Chính tiếng anh này đã khiến hắn không bao giờ giận vợ được lâu thảng có điều gì làm hắn giận vợ. Hắn cất cặp kính vào chỗ, nghĩ đến câu chuyện đọc thấy ở đâu đó kể rằng có một anh chàng nọ vừa cận vừa viễn, đã phải xắm tới 3 cặp kính cho chắc ăn: một cặp kính nhìn gần, một cặp kính nhìn xa, và một cặp kính để phân biệt cặp kính nào nhìn gần, cặp kính nào nhìn xa. Hắn cũng vừa cận vừa viễn và hắn chỉ có một cặp kính. Giá có được 3 cặp kính như cái anh chàng kể trên thì chắc là bớt loạng quạng. Ước ao vậy, hắn định cười nhưng lại thôi.

Thấm thoắt đã được đúng một năm kể từ mùa hạ năm ngoái, khi vợ chồng hắn rời bỏ cái xứ “Mù cơn gió núi lùa ngang phố / Lu ngọn đèn đường lẩn dưới mây” đề di chuyển sang Cali xa lạ này. Với hắn, Cali luôn luôn là một nơi chốn xa lạ, chẳng bao giờ có thể trở thành thân quen:

Ôi, những buổi chiều Cali cuối hạ
Ngần ngật hơi người sao thấy bơ vơ
Giữa tiếng nói cười mà lòng cứ ngẩn ngơ
Lúc đến lúc đi vẫn quên đường lạc phố…

Sau vài tháng tá túc tại nhà vợ chồng một người cháu, vợ chồng hắn lang thang đi kiếm nhà để mướn. Ghé chỗ nào cũng chỉ là để ghi tên vào waiting list. Những nơi có thể mướn được ngay thì lại quá cái túi tiền của vợ chồng hắn.

- Sorry, chúng tôi không còn căn nào trống, waiting list chúng tôi hiện đang có là 480 người.

- Xin cho tôi được là ngươi thứ 481 trong waiting list.

Hắn mở bút ghi tên, lòng dửng dưng, không buồn không vui.

Một hôm, đúng ra là ngày thứ năm, 31 tháng 5, hắn tình cờ thấy một building mới cất, có cái bảng đề là Senior Center với 4 quả bóng hơi xanh đỏ bay trên đầu những sợi giây gắn trước cổng. Vợ hắn thúc hắn vào coi xem sao, may ra…, “nếu hết chỗ thì người ta treo bong bóng làm gì...”

Hắn tìm chỗ đậu xe, bước vào văn phòng. Một bà Mỹ vừa giải thích vừa chuyển giấy tờ cho một cặp vợ chồng người Á Đông để ký, vui vẻ chào hắn‎.

- “Chào buổi chiều !”. Ông muốn mướn nhà? Xin ông chờ vài phút.

- Vâng, cám ơn bà.

Hắn trả lời rồi kéo vợ ngồi xuống. Ngước mắt nhìn lên tấm bảng đen thấy ghi hàng chữ only 3 available, hắn bấm tay vợ thì thầm: “may quá, em ạ.”.

Vợ chồng người Á Đông đã ký‎ xong giấy tờ, bà Mỹ đứng lên, với chùm thìa khóa:

- Mời ông bà theo tôi lên coi nhà. Chúng tôi chỉ còn 3 căn trống. Một căn đã có người đặt cọc, hôm nay họ phải đến nhưng chưa thấy họ đến. Chúng tôi tạm dành cho họ tới ngày mai. Như vậy là chỉ còn 2 căn. Nếu ông bà muốn thì phải mướn ngay ngày hôm nay. Ngày mai chắc là không còn.

Vợ chồng hắn líu ríu theo bà Mỹ, mừng quá, không biết nói gì.

Ngôi building có 4 tầng, 2 căn còn trống đều ở trên tầng 4. Hắn bàn với vợ xem chọn căn nào. Vợ hắn chọn căn góc vì có tới 3 cửa sổ cho nó thoáng. Ít ra thì vợ chồng hắn cũng vẫn còn có được một sự lựa chon.

- Ông bà muốn căn nào?

- Căn ở góc building.

- Tiền đặt cọc là $700.00, tiền mướn nhà là $974.00 mỗi tháng. Tiền đặt cọc có thể trả bằng ngân phiếu cá nhân, nhưng tiền mướn nhà tháng đầu phải trả bằng money order. Nếu ông bà trả tiền mướn nhà ngày hôm nay thì được bớt $300.00 cho tháng đầu, tức là chỉ phải trả $674.00. Ngày mai sang tháng mới trả thì không được bớt nữa.

Bớt $300.00, dễ gì kiếm được $300.00! Hắn nhìn vợ mừng rỡ, nhưng vợ chồng hắn chỉ mang theo ít tiền mặt và ngân phiếu cá nhân mà không có đủ tiền mặt để mua money order. Hắn bàn với vợ:

- $300.00 cũng to đấy nhưng chỉ còn hơn nửa giờ là hết giờ làm việc, làm sao mà đến nhà băng mua money order cho kịp. Hôm nay mình đành ký‎ ngân phiếu đặt cọc, mai mua money order đến trả tiền nhà vậy. Mướn được căn nhà này là phúc lắm rồi.

- Anh thử điện thoại cho anh chị Thung xem anh chị ấy có giúp được gì không. Nhà anh chị ấy ở gần đây mà.

Hắn thò túi móc cái điện thoại cầm tay và không ngạc nhiên khi được vợ chồng người bạn giúp giải quyết mọi chuyện kịp thời và xuông xả.

Đêm hôm ấy hắn không ngủ được. Hắn nhớ đến mấy câu thơ tiễn đưa vợ chồng người bạn chuyển đổi sang Cali, bỏ vợ chồng hắn ở lại Denver khoảng mươi năm trước:

Thung Yến đi rồi, đi thật rồi
Denver còn lại một mình tôi
Ngày lên không thấy vàng trong nắng
Chiều xuống loanh quanh đứng lại ngồi

Bây giờ vợ chồng hắn cũng sang Cali và trong cái đến cái đi... hắn cảm thấy hạnh phúc vẫn có được một con đường không lạc, một căn phố không quên.

Với căn nhà mới mướn này, chặng đường “xế-nhờ” của vợ chồng hắn mới thực sự bắt đầu và đúng nghĩa. Hắn nhớ, ngày xưa khi còn là một học sinh ở Hànội, có một thời hắn ở chung với một người bạn trên một căn gác nhỏ chênh vênh ở phố Hàng Đường xế chợ Đồng Xuân mà hắn thường gọi đùa là cái chuồng chim. Căn nhà vợ chồng hắn mướn hiện nay ở mãi góc trên cùng phía tây bắc của một cái building cao ngất, và theo một cách nghĩ, cũng chênh vênh như cái chuồng chim. Nghĩ thế, hắn khoái, định cười nhưng rồi lại thôi.

Ngôi building Senior Center này có gần một trăm gia đình. Nói là gia đình nhưng hầu hết mỗi gia đình thường chỉ có một hoặc 2 người. Có khoảng một nửa gia đình là người Việt, nửa còn lại là gia đình người Hàn, người Mỹ và người các nước linh tinh khác. Hầu hết những gia đình cư ngụ trong building đều có voucher housing nên chi phải trả một số tiền mướn nhà rất nhỏ. Còn hắn thì phải trả full price. Đó là chưa muốn nói đến cái notice hắn mới nhận, thông báo cho hắn biết tiền mướn nhà sẽ tăng lên tới $1,046.00 kể từ tháng tới.

Vợ chồng hắn mới đến ở có hơn một tháng mà building đã có 3 lần báo động hỏa hoạn. Mọi người tua tủa chạy ra khỏi building. Hắn cũng kéo vợ tuột ba bốn chục bậc thang, chạy ra khỏi building bởi những lúc như thế thì “for your safety” xin dùng đường thang bộ và chớ dùng thang máy. Xe cảnh sát, xe cứu hỏa hụ còi inh ỏi chạy tới. Giữa đám người “di tản” khỏi building với đủ các sắc da màu tóc, hắn chỉ nghe thấy những tiếng “cái gì thế” chứ tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng “what” nào cả. Hắn chợt nghiệm ra một chân lý: người Mỹ to con nhưng mồm nhỏ, người Việt nhỏ con nhưng mồm to, còn người Hàn thì hắn không nghe thấy nói gì, và nếu họ có nói thì hắn cũng cóc hiểu.

Hắn nhận thấy người Mỹ rất tế nhị. Họ chỉ cho biết lý do mấy cái smoke detector dở chứng mà không cho biết ai đã làm cho chúng dở chứng. Cáí l‎ý do khiến mấy cái smoke detector dở chứng là khói bốc lên vì nấu nướng, nói đúng ra là do rán cá chiên tôm với chút ít mắm muối cho đậm đà. Theo sự suy luận của hắn thì người Mỹ nhất định không chiên tôm rán cá ở nhà. Vậy chuyện rán cá chiên tôm là do ai, chẳng nói thì ai cũng biết.

Hắn nhớ, lần báo động hỏa hoạn thứ 3 hắn không rảo bước, cứ thùng thà thủng thỉnh dắt tay vợ như chẳng có sự gì xảy ra, nhưng bà manager lưu ý hắn là dù với lý do gì chăng nữa thì cũng phải rời khỏi building càng nhanh càng tốt, just in case.

Những tháng sau này hắn không thấy mấy cái smoke detector dở chứng nữa. Chắc cũng là do cái thông cáo dán ở mọi nơi mọi nẻo trong building: “Nếu ai làm cho mấy cái smoke detector dở chứng vì sự bất cẩn trong việc nấu nướng thì sẽ bị phạt $250.00”.

Những lúc rảnh rỗi hắn thường ngồi bên cửa sồ quan sát và nghiệm ra rằng khi gặp người nào mà thấy lơ đi hay quay đi phía khác thì hắn biết đó là người Việt, gặp người nào thấy nói Hello thì hắn biết đó là người Mỹ, găp người nào cúi đầu thì hắn biết đó là người Hàn. Lẽ dĩ nhiên, hắn cũng biết nhập gia thì phải tùy tục. Ai lơ đi, quay đi thì hắn cũng lơ đi, quay đi, ai nói Hello thì hắn cũng nói Hello và ai cúi đầu thì hắn cũng cúi đầu.

Một lần, đọc quảng cáo thấy chợ Value Plus cách nhà hai quãng phố có cam rất ngon ngọt và giảm giá, (10 lb mà chỉ có 99 xu), vợ hắn bắt hắn lái xe đến để mua. “Mua cam để ăn trừ cơm cũng được”, vợ hắn giải thích. Vợ chồng hắn xách 4 túi nylon đầy cam ra quầy hàng trả tiền thấy tổng số tiền trả là $5.16 thì hắn biết ngay là 4 cái túi cam đó nặng hơn 50 lb. Về đến nhà, hắn mở cóp xe sau, san sẻ 4 túi cam thành 2 túi nặng, 2 túi nhẹ. Hắn đưa 2 túi nhẹ cho vợ xách và hắn xách 2 túi nặng. Vừa đi hết nửa sân đậu xe, sắp tới cửa building hắn bỗng gặp một người cúi thấp đầu chào rất lịch sự, hắn cũng cúi thấp đầu rất lịch sự nhưng khi đứng người lên để đi thì thấy vợ hắn chạy đến đỡ giùm hắn 2 túi cam và mặt hắn tái mét. Thì ra cái cúi đầu của hắn đã khiến cho 2 túi cam như nặng thêm đến cả chục lb. Nghĩ đến cái cúi đầu nhiều khi hắn cũng định cười nhưng rồi lại thôi.

Một lần khác, từ trên cửa sổ nhìn xuống thiên hạ phía dưới, hắn thấy một ông già người Á Đông, chạc tuổi hắn, lau đi chùi lại chiếc xe cũng màu đen như xe của hắn, mà chẳng để tâm đến dáng trời đổi màu với những dấu hiệu báo trời sắp mưa. Lau chùi xong, ông quay bước đi rồi ngoảnh lại, quay đi rồi ngỏanh lại nhiều lần như thế, và sau cùng, chừng như có điều gì chưa vừa‎ ý, ông quay lại mở cóp xe sau, lấy rẻ ra lau chùi nữa. Hắn gọi vợ tới ngồi bên cạnh để cùng quan sát thì vợ hắn mỉm cười, vỗ nhẹ vào vai hắn:

- Đó là hình ảnh của anh đấy. Đừng cười, anh ơi. Khi rảnh rỗi thì người ta moi chuyện ra để làm dù cho những chuyện làm đó đôi lúc chẳng ăn nhập vào đâu, huống hồ việc lau xe cũng là một việc thể thao, giải trí chứ đâu phải một chuyện chẳng ăn nhập vào đâu.

- Anh cũng nghĩ đó có thể là hình ảnh của anh nên gọi em lại cùng coi chứ anh đâu dám cười.

Hắn ở Mỹ đã khá lâu, hơn 30 năm chứ nào có ít. Ấy vậy mà hắn vẫn chưa quen với thang máy. Thực tình thì hắn không thích dùng thang máy. Tuy có nhanh hơn, tiện hơn, và đỡ mỏi chân hơn nhưng bước vào hộp thang máy với 4 bức tường kín mít, chẳng biết đi đâu vẫn thường mang đến trong đầu óc hắn cái ý nghĩa mơ hồ, mù mịt. Bấm vào cái nút rồi chờ, chẳng biết nó sẽ đưa mình đi tới đâu. Không may, nó dở chứng giữa đường, không thèm leo lên hay tụt xuống thì tình thế lại càng mù mịt hơn.

Ở đời, có những cái mình không thích nhưng rồi có ngày cũng phải thích. Việc không thích nhưng vẫn phải thích dùng thang máy của hắn là một thí dụ.

Trong những ngày đầu hắn không dùng thang máy mà chỉ dùng đường thang bộ. Mỗi tầng có 16 bậc thang, như vậy là hắn phải bước 48 bậc thang để lên đến tầng 4. Vợ hắn thì lại thích dùng thang máy và mỗi lần đi đâu về vợ hắn thường vào nhà trước. Hắn không quan tâm đến chuyện trước sau này. Mỗi lần như thế hắn có vẻ khoái trí, nói với vợ:

- Anh thấy cũng như là jogging mà thôi. Bác sĩ đã chẳng khuyên mình nên jogging đấy sao!

- Cũng tốt thôi. Anh cố gắng đi. Chỉ sợ không được một tháng.

Khoảng một tháng sau, sau khi ra phố trở về nhà, thấy hắn bước vào thang máy chứ không đi bằng đường thang bộ, vợ hắn khúc khích cười nhưng không nói gi. Hắn cũng không nói gì. Thang máy vừa chuyển dịch được một tý thì ngưng, cửa mở, một người bườc vào và hắn bước ra. Vợ hắn chạy ra kéo hắn lại nhưng không kịp, thang máy đã đóng cửa và tiếp tục di chuyển.

- Anh ơi, đây mới là tầng 2, mình ở trên tầng 4 cơ mà.

- Thế à, lôi thôi nhỉ.

Vợ hắn quay lại bấm số gọi thang máy. Chờ mãi không thấy cửa thang máy mở, hắn sốt ruột:

- Sao lâu thế?

- Nó đang trên đường lên tầng 4 rồi mới trở xuống, nên hơi lâu đấy mà.

Thì ra thế! Kể từ đó, hắn bắt đầu thích dùng thang máy.

Cứ thế, một chặng đường “xế-nhờ” của hắn theo ngày tháng trôi qua, thản nhiên, không vui không buồn. Mọi chuyện lâu rồi cũng quen. Những chuyện không thích rồi cũng có ngày biến thành thích. Cũng như trường hợp của hắn: bây giờ thì hắn bắt đầu thích dùng thang máy.

Vùng đất lạ, cận tháng tư 2008

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 10 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
  -Koong Sĩ & Cút Vương- 

10 - Chẳng-giống-ai

Lại hắn! Đúng là chẳng giống ai. Có người nói thế, nhiều người nói thế, vợ hắn cũng nói thế - giọng mặn chát Hải phòng (vợ hắn người Hải Phòng): “Đúng là chẳng giống ai. Nhưng nói cho mà nghe. Chẳng giống ai gái này mới đeo đuổi chứ giống ai thì gái này quơ đâu chẳng được!”

Hắn khoái. Dù đó là lời khen hay tiếng chê thì hắn cũng thấy cái chẳng-giống-ai của hắn gợi trong đầu hắn cái ý nghĩ hắn vẫn là hắn, cái tôi của hắn còn đấy, chưa mất nên hắn không phải đi tìm như một ông nhà văn nào đó. Hắn chợt nhớ đến câu chuyện hắn không nhớ đã đọc thấy ở đâu. Cái nhớ, cái không nhớ cứ đan quện vào nhau chẳng biết khi nào nhớ khi nào không nhớ. Nhớ đấy mà không nhớ đấy, không nhớ đấy mà nhớ đấy...!

Tại viện bảo tàng Luân Đôn, Anh Quốc, có tàng trữ một miếng thạch cao hơn 3,800 tuổi, ghi dấu vào thời đó đã có một cuộc đếm người mà ngày nay người ta gọi là kiểm kê nhân số. Hai đế quốc La mã và Ai cập ngày xưa cũng thực hiện những cuộc đếm người để đánh thuế, và cuộc đếm người đầu tiên được thực hiện trên đất Mỹ là vào năm 1790.

Từ những cuộc đếm người như thế, và nhờ vào khả năng điện toán vô biên ngày nay, có người đã tẩn mẩn suy tìm ra nhiều điều thích thú hướng sâu vào tương lai. Chẳng hạn, nếu mức sinh sản của con người trên thế giới tiếp tục như hiện nay thì đến năm 3530 cái khối thịt người, nén lại, sẽ to bằng trái đất, và đến năm 6826 khối thịt người này sẽ nêm chật cái vũ trụ mà các nhà bác học đã khám phá được. Còn nữa, tổng số người trên toàn thế giới vào thời Julius Caesar là 150 triệu, bây giờ 150 triệu là tổng số người gia tăng trong 2 năm, và sau khi đọc xong bài viết này, khoảng 2 phút, thì đã có 200 người chết và 480 người mới sinh ra!

Theo sự tính toán tẩn mẩn của các người nói trên thì từ ngày loài người có mặt trên trái đất đến nay đã có khoảng 60 tỷ người được sinh ra. Trong 60 tỷ đó người ta không tìm được 2 người giống nhau, và họ tin rằng trong hàng tỷ tỷ người sẽ sinh ra sau này cũng không thể tìm được người nào giống người nào.

Vậy thì… nếu không may (hay may mắn?) mình chẳng giống ai thì cũng chỉ là một điều tự nhiên thôi! Vào đầu năm 2.000, người ta nói nhiều về ngày tận thế. Cũng vào dịp này, tình cờ hắn đọc thấy một câu viết ở đâu đó: “Ngày tận thế chính là ngày mọi người đều suy nghĩ như nhau.” Nghe cũng có lý đấy chứ! Vậy thì... hãy yên tâm, thế giới chưa tận thế vì con người chưa suy nghĩ như nhau!

Sau biến cố Tết Mậu Thân hắn đưa gia đình vào cư ngụ trong căn cứ KQ Tân Sơn Nhất. Cư xá gồm những dãy nhà dài, có 8 căn phòng và một căn ở giữa là nhà vệ sinh. Theo chức vụ, cấp bậc cũng như tình trạng gia đình của hắn, hắn được cấp nửa dãy, nhưng khi ấy có nhiều người cũng muốn đưa gia đình vào căn cứ mà cư xá không đủ nhà để cung cấp nên hắn tự nguyện nhường cho một gia đình một nửa cái phần nửa của hắn.

Thế rồi, cứ 3 năm vợ hắn sanh một đứa con và sau cùng hắn phải cất thêm một căn trái ở đầu dãy. Thấy hắn tay đinh tay búa, leo trèo lên xuống vợ hắn ngậm ngùi: "Đúng là chẳng giống ai, nhường cho người ta để rồi bây giờ oằn lưng ra đóng kèo dựng cột...!"

Nói đến KQ thì không thể không nói đến mạt chược, đó là dịp để mấy chàng "hào hoa" mân mê xoa vuốt mấy quân bài, vừa đấu láo với nhau, vừa thử vận hên xui, hay kiếm tí tiền cà phê, cà pháo, trong khi chờ thi hành phi vụ hoặc sau những phi vụ trờ về. Cách vài gia đình lại có một gia đình có bàn mạt chược, bàn ghế sẵn đó, quân bài sẵn đó... Ai cũng có thể rủ nhau ghé xoa bất cứ khi nào, nhiều khi người chầu rìa đông hơn cả người xoa, tranh nhau đi "đái giải đen" cho đứa này đứa nọ.



Hắn cũng thích xoa mạt chược, mê là đằng khác. Những khi rảnh rỗi thế nào hắn cũng kiếm cách mò đến bàn mạt chược. Có lần hắn đến thì thấy tay chân đã đủ bộ, hắn vỗ vai một anh chàng đang xoa, năn nỉ: “Thèm quá, nhường cho tao vài gió, bàn nào thắng tao chia cho một nửa, bàn nào thua tao chịu hết”.

Ấy vậy mà khi đứng dậy hắn không thua! Thế là, có người gắn vào ngực hắn cái tên "Koong Sĩ"! Koong Sĩ tức cảnh sinh tình... làm thơ !

Tự Kiểm
Xuống chó lên voi cũng bởi tiền
Tối ngày xuôi nguợc chạy như điên
Ăn non ù cáy thì không chịu
Tham mủn koong khung để bị nghiền
Thân xác điêu tàn trơ củ ráy
Mặt mày trau chuốt tuởng anh hiền
Giang sơn còn đuợc hai cùi trỏ
Nếu có ai mua cũng bán liền ! 

Có một thời mấy chú ba tàu ở Chợ lớn tung ra phong trào nuôi chim cút,“người người nuôi cút, nhà nhà nuôi cút”. Các chú dụ khị người ta nuôi cút, cho người đi mua vài con với giá cắt cổ để giữ giá rồi bán ra hàng ngàn con kiếm lời. Một con cút khi vặt trụi lông chỉ bằng ngón chân cái mà có khi giá lên tới 5, 10 ngàn đồng một cặp. Hắn cũng bị lôi cuốn vào phong trào nhưng chỉ làm một cái lồng nhỏ, nuôi vài cặp cút để xem chúng… đấm đá nhau, trèo leo lên nhau và đẻ trứng.


Bất ngờ, một anh chàng phi công Air Vietnam mang đến nhà hắn 500 con cút chở lậu từ HongKong về: “Tao không có chỗ nuôi, bán rẻ cho mày”. Hắn bốc đồng, mua. Hắn tống mấy đứa con lên ngủ tại phòng khách để lấy phòng nhốt lũ cút.

Chưa kịp tính toán gì thì mấy chú ba Chợ Lớn đến gạ mua vài cặp với giá 5.000 đồng một cặp. Hắn nói với mấy chú ba nếu mua hết hắn sẽ bán với giá 2.000 đồng một cặp thôi. Tính ra, nếu bán 2.000 đồng một cặp hắn cũng lời gần nửa triệu đồng rồi. Chẳng biết mấy chú ba bị ma dẫn lối hay quỷ đưa đường sao đó, móc túi trả tiền mua hết. Hắn phải mượn xe Cadilac của một người bạn, giúp chở cút cho các chú nhiều lượt để hoàn tất việc mua bán trong nội buổi chiều vì sợ các chú đổi ý.

Chỉ 2 ngày sau, giá một cặp cút không còn đáng vài cắc mà cũng không có ai mua nữa. Người ta thi nhau vặt lông cút nướng thịt, có người đào hố chôn cút, không dám thả vì sợ chúng bay vào quấy rầy nhà hàng xóm. Thế là, bà con trong xóm gắn vào ngực hắn cái tên “Cút Vương”!

Năm 1975 Cút Vương ra nước ngoài tỵ nạn, bỏ lại đằng sau quê hương yêu dấu của mình vì nơi đó đã bị người lạ cưỡng đoạt, không còn là nơi để có thể dung thận. Nhìn vào một khía cạnh cuộc sống của những người tỵ nạn, Cút Vương tức cảnh sinh tình... làm thơ!

Tiên trên trần
In-lít (English) chữ nghĩa lơ mơ
Thì ta làm ách-săm-lơ (assembler) cho rồi
Hay là lãnh chức bết-bồi (bus boy)
Ở đời chẳng có nghề tồi dóp (job) sang
Cũng hôm (home) cũng xế đàng hoàng
Cũng tiền bô-nết (bonus) cũng nhàn như ai
Vác-kê-sân (vacation) nghỉ lai rai
Ố-vơ-tem (overtime) lãnh gần hai ngày thuờng
Quít-ken (week end) lại bát phố phuờng
Sóp-binh (shopping) mua sắm chật rương chật nhà
Tiến băng (bank) viết chéc (check) mua quà
Dạt-Linh (Darling) thân tặng nọ là thiệt hơn
Quynh-tơ (winter) thì kéo lên non
Ếch-ki (ski) lượn cũng trông ngon quá chừng
Sôm-mơ (summer) nghỉ mát trên rừng
Bạc-bờ-kiu (barbecue) đó tưng bừng một phen
Bớt lai (Bud light) quen vị môi mềm
Ba hoa tán dóc (joke) cho quên sự đời
Tan-ninh (tanning) ở biển tuyệt vời
Cho xì-kin (skin) có chút hơi nghỉ hè
Sơm-tem (sometime) ra vẻ màu mè
Đăng-xinh (dancing) lả luớt bạn bè cho vui
Phút (food) ngon lạ miệng nhớ mùi
Buốc-gơ (burger) hót-đót (hot dog) ôi thôi thiếu gì
Lễ lạc tổ chức bạt-ti (party)
Hay là bót-lót (pot luck) có đi có về
Lô-tô (lotto) xập xám đề huề
Ti-vi (TV) phim chuởng đỡ mê đỡ ghiền
Hai tuần bê-chéc (pay check) phát tiền
Cuộc đời như thế là tiên trên trần!

Hắn đã từng là "Sĩ", hắn đã từng là "Vương", danh giá quá rồi, hắn có muốn tham lam gì thêm nữa đâu!

Irvine, California, Tháng Tư 2009

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 11 

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                   -Quýdenver- 

11 - Tuổi sồn sồn của hắn

Từ một gã học sinh thích đánh đáo, bắn bi, thả diều, đuổi bướm… hơn là thích sách vở, hắn trở thành ông quan để rồi vượt biên sang Mỹ, khệ nệ mang theo hai chữ tỵ nạn to tướng trên vai. Trong cuộc hành trình dọc theo chiều dài của cuộc đời đầy những cái thích cái không thích ấy, hắn cũng có cả đống chuyện để kể lể. Moi móc, lôi kéo ra, viết thành sách này sách nọ, sách dày cả ngàn trang là cái chắc. Nếu khéo léo pha chế chút mắm muối sách có thể khiến người đọc không … xanh mày thì cũng … đỏ mặt !

Có người nói với hắn ông ca sĩ ấy hát bài “Mộng Dưới Hoa” hay nhất, có người nói ông hát bài “Áo Lụa Hà Đông” hay nhất, nhưng hắn lại thích bài ông hát là “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Hắn làm một Video Clip, upload lên Youtube. Vài tháng sau, một “fan” trên Youtube gửi cho hắn câu chuyện “Tuổi Già Của Tôi”. Thì ra đó là cái “Tuổi già của…” ông ca sĩ.

Hắn không đọc. Hắn không thích đọc những bài viết tương tự bởi trước sau thế nào cũng ít nhiều gặp phải cái mùi hắn kỵ. Mẹ hắn đã chẳng nói hắn tuổi khỉ đấy ư: “Tôi đẻ ra nó mà lại không nhớ sao?”, nhưng chị hắn (con bà cả) thì lại nói hắn tuổi gà: “Tôi đón tay nó mà lại không nhớ sao?”. Ai cũng nhớ nên bây giờ nói hắn tuổi khỉ hay tuổi gà thì cũng đúng thôi.

Thế rồi, khi nhận được câu chuyện này lần thứ hai do một chị bạn thân ở Houston, Texas gửi thì hắn phải đọc, đọc mà lòng cứ dửng dưng mù mờ, chả nhớ tác giả đã nói những gì. Cho mãi đến khi nhận được đôi điều bàn ra tán vào của một người bạn thân khác ở Aurora, Colorado thì hắn mới đọc kỹ và thích thú biết bao khi thấy những điều bàn ra tán vào của người bạn thân đã giúp hắn khám phá ra cái lý do của sự dửng dưng mù mờ trước đó mà hắn chỉ linh cảm thấy chứ không lý giải được.

Dẫu sao thì câu chuyện “Tuổi Già Của Tôi” của ông ca sĩ và những lời bàn đi tán lại của hai anh chị bạn thân nói trên cũng mang đến cho hắn một hứng khởi để kể lể đôi điều, không phải vể cái tuổi già của hắn bây giờ mà về cái “Tuổi sồn sồn của hắn” trước kia.

Hôm đó là ngày cuối tháng 4/1975, sau khi “ra tù” (Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời – 5 - Tháng tư bát nháo) hắn thất thểu lên Bộ Tư Lệnh KQ để nghe ngóng. Diệm mộc tồn ngăn hắn lại: “Mày vừa bị tù ra, lên gặp chúng nó làm gì!” Hắn không nghe, lên Bộ Tư Lệnh thấy các tướng có mặt đầy đủ (Kỳ, Minh, Lành, Loan, Linh, Dinh, Tần…) và có cả hai ông tướng bên Lục Quân cùng nhiều quan to khác. Thấy hắn, xếp chạy lại nói nhỏ ra cái điều vỗ về, an ủi: “Toa yên tâm, 10 chiếc C130 đã sẵn sàng chờ lệnh nếu có chuyện gì xảy ra…”. Hắn cười, nghĩ thầm: “Nếu có chuyện gì xảy ra thì họ cất cánh với vợ con chứ sức mấy mà chờ lệnh.”

Hắn thu mình trong chiếc ghế bành cũ góc phòng vừa ngủ gà ngủ gật, vừa nghe ngóng. Vợ con hắn đi rồi, giờ này đang trên đảo Guam. Hắn nghe tin như thế, chả biết có đúng không nhưng cũng thấy yên tâm một phần. Hắn nghĩ đến cái hôm đưa vợ con sang DAO đi Mỹ, bà người Mỹ được chỉ đinh lo cho vợ con hắn đã chỉ vào 2 bông mai trắng trên vai hắn, nói nhỏ: “Gỡ bỏ cái này đi rồi cùng sang Mỹ mà lo cho vợ con”. Hắn không nghe, nhỏ nước mắt từ biệt vợ con, quay về sở để sau đó vào ngồi tù, chút nữa bị tước lon đưa ra sân cờ xử bắn và giờ này thu mình ngồi đây nghe ngóng.

Hắn đưa tay sờ khẩu súng P38 ngắn nòng đeo bên hông. Gần 22 năm đời lính hắn chưa bắn chết một tên giặc nào. Khi Ngô Đình Diêm quyết đinh đánh Bình Xuyên, hắn được chỉ định mang một trung đội (tăng cường bởi một bộ phận súng nặng không giật 57 ly) vượt cầu chữ Y tiến chiếm tư dinh Bẩy Viễn. Từ bờ sông bên này, hắn quyết định sẽ tự tay bắn một phát súng không giật 57 ly vào tư dinh Bẩy Viễn như là một cú phủ đầu. Hắn loay hoay nạp đạn, điều chỉnh ống nhắm, bóp cò. Sau tiếng nổ inh tai nhức óc, hắn thấy viên đạn hùng dũng vụt thoát ra khỏi nòng súng, rơi nổ giữa… lòng sông! Anh Trung Sĩ Nhất truyền tin cười tình với hắn: “Trung Úy không có tay sát người, suốt đời binh nghiệp Trung Úy không thể lên tướng được đâu!”.Rồi hắn ngâm nga: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”

Khi tiến sang bên kia đầu cầu chữ Y, hắn dẫn trung đội xông vào tư dinh Bẩy Viễn thì Bẩy Viễn đã đi khỏi từ hồi nào. Anh Trung Sĩ Nhất truyền tin nói không sai, quả là hắn không có tay sát người. Sau đó hắn đựơc lệnh mang trung đội đến trấn giữ cầu Nhị Thiên Đường, nhường tư dinh Bẩy Viễn cho một đơn vị khác chiếm đóng mà chả phải bắn thêm một viên đạn nào. Nghe đâu, đơn vị này đã khám phá ra một căn nhà chứa đầy bạc của Bảy Viên rồi lấy chia nhau. Hắn chép miệng tiếc hùi hụi.Hắn ngồi đấy miên man suy nghĩ, bây giờ nếu phải hành động hắn sẽ nhất định không nương tay và viên đạn cuối cùng sẽ dành cho hắn. Nghĩ thì nghĩ vậy, chả biết đến lúc đó hắn có đủ can đảm không!

Gần trưa, hắn bừng tỉnh khi nghe Tướng Kỳ nói: “Mấy C130 đã cất cánh hết rồi, mình phải đi, nếu chậm sẽ không còn phương tiện”. Ông ra xe jeep. Lên xe cùng ông có 2 người nữa trong đó có ông tướng lục quân. Hắn nhảy lên pickup bám sát sau xe tướng Kỳ. Khi xe ông vào khỏi cổng tư dinh (trong BTL cũ) thì cổng đóng lại, không ai vào theo được.

Hắn chợt nhớ đến “chương trình ra đi” của một số anh em trực thăng, lập tức quay xe. Chưa biết hướng về ngõ ngách nào thì Triệu (An Ninh) ngừng xe hỏi hắn: “Anh biết cách nào để đi không?” Thấy xe jeep của Triệu trang bị súng trung liên và còi hụ, hắn bỏ xe pickup nhảy lên xe của Triệu, bảo Triệu đưa cho hắn khẩu M16 gài bên cạnh ghế. Hắn lên đạn, nói với Triệu: “Tôi có chương trình đi, từ đây anh phải nghe theo tôi nếu không sẽ hỏng việc.” Triệu phản ứng: “Anh có chương trình đi thì tôi theo anh, làm gì mà dữ dằn thế.”

Hắn bảo Trịệu chạy sang SD5KQ mà không biết sau đó chuyện gì đã xảy ra đối với những người đang kẹt lại tại đây. Sau này Phong híp cho hắn biết hầu hết mọi người quay sang DAO với nhiều chuyện dở cười dở khóc. Khi đến cổng SD5KQ thì gặp Dinh (có võ) dơ tay ngoắc. Hắn nghĩ, nếu có thêm ngôi sao trên vai của ông này thì việc chạy đi chạy lại sẽ dễ dàng hơn nên bảo Triệu ngưng lại. Hắn nhường Dinh ngồi ghế trước, nhảy xuống ngồi phía sau để dễ hành động khi cần.

Trong thời gian nghiên cứu thực hiện giá súng để trang bị Minigun lên UH1, hắn đã làm việc rất gần gũi với trực thăng, nhiều lần bay trực thăng để trắc nghiệm đồng thời huấn luyện các xạ thủ phi hành nên quen nhiều xạ thủ trực thăng và một số hoa tiêu trực thăng cấp nhỏ. Trong những ngày giữa tháng 4, hắn được anh em tiết lộ cho biết có một “chương trình ra đi” của một số anh em trực thăng nếu có chuyện gì xảy ra, đồng thời họ còn cho hắn một ám hiệu để nhận nhau. Nói là có chương trình nhưng thực ra cũng rất mơ hồ, nhưng trong giây phút sinh tử lúc đó hắn đành coi như một hy vọng cuối cùng để bám víu.

Sang đến SD5KQ, chạy quanh một chút hắn thấy một chiếc Chinook với 2 cánh quạt đang quay, một bánh bị bẹp và cửa sau vẫn hạ mở. Nhìn vào trực thăng thấy chật ních người, ngổn ngang xe đạp và có cả một chiếc vespa. Hắn bảo Triệu ngưng lại, đưa tay ra ám hiệu thì nhận được trả lời. Hắn nhảy xuống xe, leo lên trực thăng, quay lại nói với Dinh và Triệu: “Đây là chương trình đi của tôi, các ông muốn đi hay không tuỳ ý.” Triệu và Dinh cũng theo hắn trèo lên vừa kịp lúc trực thăng cất cánh. Hắn nhìn qua cửa sổ thấy Liêm (chữ bát) và Khải (hoàng hủi) không kịp leo lên, bị rớt xuống. Hắn nghĩ Liêm và Khải bị kẹt lại nhưng sau này hắn thấy cả hai ngừời cũng thoát đi được và đến Mỹ trước hắn.

Hắn chen lấn tới gặp một xạ thủ minigun trực thăng quen biết đang dơ tay vẫy hắn. Hắn hỏi anh ta chương trình đi sẽ như thế nào thì thấy tim như đứng lại khi nghe anh ta nói: “Em thấy trực thăng thì nhảy lên và thấy Tr/t ra ám hiệu thì trả lời chứ em cũng không rõ đây có phải là chương trình đi của mình không.” Hắn chỉ còn biết tự an ủi: “sống chết đành uỷ thác cho số mệnh thôi”.

Chiếc Chinook ì ạch cất cánh, có lúc hắn tưởng như bị rớt xuống, không cất cánh nổi. Bay qua Nhà Bè thấy trực thăng của Tướng Kỳ đang đổ xăng. Qua khỏi Nhà Bè chừng 15 phút, chiếc Chinook hạ cánh giữa một cánh đồng mà ở đấy hắn thấy khoảng hơn chục chiếc UH1 đậu theo một hàng dài với cánh quat đang quay. Hắn tức tốc nhảy lên một chiếc UH1, quay nhìn xuống đám người khá đông còn đứng nhốn nháo phía dưới, thấy Dinh dơ tay múa võ: “Tôi ra lệnh các anh bay ra Côn Sơn.” Một người trên trực thăng nói vọng xuống: “Bây giờ không còn lệnh lạc gì nữa, muốn đi thì lên!”. Ít phút sau, chiếc máy bay trên đó có hắn và vài cái khác cất cánh. Lại một lần nữa, hắn nghĩ Dinh và nhiều người bị kẹt lại nhưng rồi Dinh cũng thoát đi được.

Anh em trên trực thăng quyết định bay ra Hạm Đội 7, bàn với nhau không biết có nên đến SD4KQ đổ xăng hay không. Sau cùng anh em quyết định ghé Đồng Tâm. Trong dịp này hắn được anh em giao cho nhiệm vụ điều khiển một số anh em khác tháo gỡ Minigun trên các trực thăng cho nhẹ. Thấy mấy anh lính phụ trách đổ xăng trố mắt nhìn mấy chàng KQ tháo súng bỏ đống trên đất, hắn thương quá , móc túi moi hết mấy tập vé xăng trao cho họ (!), rồi đưa mắt nhìn sang khu kế cận thấy một số quân nhân vẫn còn đang thao tập căn bản quân sự bình thường.

Khi trực thăng bay ra biển, mở tín hiệu SOS thì nhân được trả lời của Hạm Đôi 7. Họ cho “cap” để bay tới một chiến hạm mà hắn nghĩ là gần nhất bởi chỉ khoảng hơn một giờ sau thì nhìn thấy chiến hạm. Khi tới gần chiếm hạm, mọi người mừng rỡ thoát nạn nhưng xin đáp mấy lần đều không được phép nên cứ bay vòng mà không biết tại sao. Giữa lúc mọi người nhốn nháo thì nhận được câu hỏi từ chiến hạm yêu cầu cho biết còn bay được bao lâu nữa và qua câu hỏi này anh em suy ra là họ bẳt bay cho cạn xăng mới cho đáp vì vấn đề an toàn.

Rồi trực thăng cũng đáp xuống chiến hạm. Một số quân nhân Mỹ áp tới, ra lệnh cho mọi người dơ tay và nói lớn: “You’re now safe. You no longer need gun.” Họ tước vũ khí và đưa mọi người xuống hm tầu ở đấy hắn thấy có hai ông tướng Biên Hòa: Tính và Bê. Còn chiếc trực thăng thì được họ đẩy xuống biển.

Vài ngày sau, mọi người được chuyển sang một tàu buôn chật đầy người Việt và rất may hắn gập Phong híp để đấu láo qua ngày. Tàu chạy được hơn một ngày thì thấy đất liền hiện ra ở chân trời. Hắn giật mình hỏi Phong híp: “Mới đi có hơn một ngày đã thấy đất liền. Đảo nào vậy hay là… họ đưa mình trở lại VN?”. Nhưng rồi được tin là tàu nhận lệnh quay trở lại để cứu vớt thêm một số người đang lênh đênh trên biển.

Hắn không nhớ là tàu đã chạy mấy ngày đêm để rồi mọi người được đẩy xuống đảo Wake. Trước đó, vợ con hắn được đưa đến đảo Guam, bây giờ hắn cập đảo Wake vì vậy mới có câu thơ tức cảnh sinh tình: “Bây giờ chồng Wake vợ Guam / Nơi này chốn ấy biết làm sao đây?” Được chuyển đến trại tỵ nạn Pendelton, hắn gặp Diệm mộc tồn và nhớ mãi câu phát ngôn bất hủ của Diệm: “Trong đời tao chưa bao giờ thấy sảng khoái như những ngày trong trại tỵ nạn này”

Hắn nhớ đến một chuyện…. trên tàu, nghe cũng rất là sảng khoái.

Ăn thì phải ị…, đó là 2 trong 4 cái khoái của con người. Để thoả mãn cái khoái thứ tư này người ta làm hàng chục cầu tiêu tạm chênh vênh trên thành tàu để bà con trút… xuống biển. “Thứ nhất là ị… ngoài đồng”. Ngày xưa khi còn nhỏ ở nhà quê hắn nghe người ta ví von như vậy, hắn đã thực hành và thấy sảng khoái vô cùng. Nhưng bấy giờ, nhìn dãy cầu tiêu dọc trên thành tàu hắn thấy phải sửa lại câu ví von trên: “Thứ nhất là ị… trên tàu!”. Đúng vậy, chẳng ị… ở đâu khoái bằng i… trên tàu. Vừa mát vì lúc nào gió cũng thổi ào ào, vừa có cái cảm giác mạo hiểm là có thể rơi tọt xuống biển hay nhẹ hơn thì bay mất cái quần cái áo. Gay nhất là giai đọan lau chùi mà chẳng mấy khi… sạch. Khi ấy thì một tay núm chặt thành cầu, một tay lau lau chùi chùi chứ tay đâu mà ôm quần ôm áo.

Thế rồi, có những buổi sáng buổi chiều, hắn và Phong híp rủ nhau ra thành tàu để hưởng gió… mát và xếp hàng chờ đến lượt mình giải quyết cái khoái thứ tư. Một lần, hắn bất chợt nghe thấy tiếng la thất thanh của một bà: “Ối giời ơi, bay mất hết rồi!”. Hắn giật tay Phong híp: “Nghe thấy gì không? Chắc là bà nào để bay mất áo mất quần rồi, biết lấy gì mà che đây!” Nhưng Phong híp đã nhận thấy chuyện gì xảy ra, đưa tay chỉ những tờ giấy nhỏ đang bay trong gió và nổi lênh đênh trên biển, hét to: “Đừng can ngăn tao, mày đừng can ngăn tao! Tao sẽ bay theo gió, tao sẽ lao xuống biển. Ôi, đô la, mi hãy chờ ta.” Hắn phải hết sức kìm Phong híp lại, chỉ sợ Phong híp lao xuống biển hay bay theo gió thì lấy ai để đấu láo!

Một tháng tư bồng bềnh.

Garden Grove, California Thánh Tư 2010

* * *
Nghĩ về một cuộc chiến, nhớ lại những chặng đời - 12

50 năm xa Hànội
30 năm mất Saigon
Bao nhiêu năm đất khách
Cho tròn nỗi cô đơn!?...
                    -Quýdenver -

12 - Câu chuyện không đoạn kết

My favorite book ending is no ending at all. - Robert Fulghum

Cùng với cuộc cuộc tản cư rầm rộ xảy ra vào năm 1946, tôi theo gia đình đáp chuyến xe lửa cuối cùng rời Hànôi lên sống tại một thôn ấp thuộc tỉnh Vĩnh Yên, cách Hànội khoảng 70 cây số về hướng bắc. Khi đó Vĩnh Yên là một tỉnh thuộc Chiến Khu X, có 6 huyện là Tam Dương, Bình Xuyên, Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Đảo và Vĩnh Tường.

Dãy núi Tam Đảo chạy dài sát biên với tỉnh Thái Nguyên có phong cảnh rất hùng vĩ, hữu tình và đã từng là nơi anh hùng Hoàng Hoa Thám lập chiến khu chống thực dân Pháp. Huyện lỵ Tam Đảo là nơi nghỉ mát nổi tiếng. Bố tôi thỉnh thoảng đưa tôi lên đây du ngoạn và đấu cờ tướng với một vài người bạn tại địa phương. Huyện Vĩnh Tường có đền thờ vua Hùng Vương thứ 18 và cũng là nơi sinh trưởng của anh hùng Nguyễn Thái Học và Trịnh Văn Cấn, tức Đội Cấn.

Lúc bấy giờ tại tỉnh Vĩnh Yên có 2 bài hát rất thịnh hành, đi đâu cũng nghe hát là “Chiều Yên Thế” và “Đoàn quân văn hoá”. Tôi không biết tên tác giả của những bài hát này và cũng chỉ còn nhớ lõm bõm vài câu đầu của bài hát:

Chiều Yên Thế
Đây chiều Yên Thế
Khói sương mờ hơi
Gió than trên đồi
Gieo buồn khắp nơi….

Đoàn quân văn hoá
Hướng về thủ đô nơi vang tiếng súng
Bao xác phơi sa trường cho nền độc lập nước nhà
Anh em ta là đoàn quân văn hoá
Đi đi không còn mộng mơ…

Giữa năm 1949, tôi thi Trung học phổ thông. Địa điểm thi là một ngôi đình thuộc Huyện Vĩnh Tường. Ngoài đề thi về các môn khác, đề thi về luận văn như sau:

Anh chị đã nghe bài hát “Đoàn quân văn hoá” đang thịnh hành với 4 câu đầu là:
“Hướng về thủ đô nơi vang tiếng súng
Bao xác phơi sa trường cho nền độc lập nước nhà
Anh em ta là đoàn quân văn hoá
Đi đi không còn mộng mơ…”
Anh chị nghĩ gì khi nghe bài hát đó?

Sau khi làm xong bài luận văn, tôi nổi hứng, viết thêm vào cuối bài luận văn một bài thơ tôi thích. Bài thơ khá dài nhưng nay tôi chỉ còn nhớ 8 câu trong 2 đoạn đầu:

Lạc Mẹ
Mẹ lạc bước bao ngày con đợi Mẹ
Mắt thơ ngây theo dõi lối xa xăm
Bụng oán cừu uất hận giống xâm lăng
Khóc thổn thức trong lòng, ngoài khoé mắt
Con lạc Mẹ mặt trời như muốn tắt
Tháng ngày trôi nặng chĩu nỗi căm hờn
Sống âm thầm trong sông núi cô đơn
Nói nghẹn tiếng và cười ra nửa miệng…

Tôi cắm cúi viết một mạch cho đến cuối giờ thi mà không biết khi viết những câu thơ như vậy là vì trong lòng đã thực sự nhen nhúm, tuy còn mơ hồ, một tình yêu nước thương nòi, một mối căm thù giặc Pháp xâm lăng hay chỉ là một a dua theo thời thế.

Thi xong, tôi về nhà hí hửng kể cho bố tôi nghe để bị bố tôi mắng cho một trận: “Mày làm văn thế thì trượt vỏ chuối rồi!”. Tôi ân hận và buồn nản, thẫn thờ ra cuối sân sau nhà, trèo lên cây khế, ngắt một quả, đưa vào mồm nhai ngấu nghiến, nước mắt nước mũi trào ra. Khế chua hay là tôi đã khóc? Bốn tuần sau, tôi lên địa điểm thi để xem kết quả thì ngạc nhiên và vô cùng vui sướng vì tôi đỗ hạng Ưu!

Một điều khiến tôi ngạc nhiên hơn nữa và không thể ngờ được là khoảng 3 tháng sau, bài “luận văn” của tôi lan truyền khắp trong huyện và tôi được Uỷ ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh ban giấy khen đồng thời mời tham dự một khoá học chính trị 2 tuần lễ. Quả thật, lúc đó tôi cảm thấy rất hãnh diện. Hôm khăn gói lên đường, tôi được chị Thắm, đoàn trưởng phụ nữ cứu quốc xã, tiễn chân tới cuối thôn và nói sau khoá học chính trị tôi sẽ trở thành một cán bộ trẻ tuổi được nhiều người trọng vọng. Chị có nụ cười thật tươi, hồn nhiên và nhí nhảnh như gái Bắc Ninh, quê Mẹ tôi.

Khoá học có 4 học viên là tôi, một người nữ khá lớn tuổi và 2 người nam trông mặt non choẹt cỡ cùng tuổi tôi. Trong bài viết này, tôi tạm gọi 2 người nam một anh là “Ngọng” vì tuy không lẫn lộn giữa 2 chữ “L” và “N” nhưng khi nói đến những chữ này thì hơi ngượng ngập; một anh là “Hiếng” vì khi nhìn người khác thì nhìn nghiêng; còn người nữ tôi gọi bằng tên thật: Chị Mai.

Huấn luyện viên - đã được thông báo trước cho học viên - là một cán bộ tỉnh tên Chót, đồng chí cán bộ Chót. 8 giờ sáng hôm đó, 4 học viên chúng tôi được đưa đến gặp Chót trong sân trước một ngôi nhà cũ, tường gạch mái ngói, ven rìa làng. Chót mặc quần áo nâu, gấu quần thắt lại bằng một sợi giây gai nhỏ. Trên miệng túi áo ngực gài chiếc bút máy nắp màu đỏ nhạt. Chân di dép cao su quai tréo màu trắng đục, lưng đeo ba-lô vải dầy màu nâu thẫm và đầu đội mũ cán bộ màu đen (một loại mũ lưỡi trai).

Chót mở lời trước với 4 học viên chúng tôi:

- Chào 4 đồng chí. Hân hạnh được tiếp đón các đồng chí. Mời các đồng chí dành dăm phút làm quen nhau.

Chót nhếch một bên mép, cười nhe bộ răng cải mả, rồi quay gót bước vào nhà, nét mặt thoáng lạnh lùng, không như lúc mới đầu gặp gỡ.

Ngọng nhẩy bổ đến đưa 2 tay nắm tay tôi:

- Năm nay tôi 20 tuổi, đồng chí bao nhiêu tuổi? Chắc lớn hơn tôi.

Tôi hơi giật mình. Tôi thua hắn 4 tuổi thế mà hắn cho là tôi lớn hơn hắn. Tôi già thế rồi ư? Tôi ngần ngừ, trả lời bâng quơ, trống không:

- Tôi mới 16 tuổi.

Nghe vậy, Hiếng nghiêng mắt nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên nói không trọn câu:

- Thế mà tôi cứ tưởng…

Từ đầu đến giờ, chị Mai đứng yên, không nói gì. Tôi nhìn chị..., chị nhìn tôi rồi bước đến đặt nhẹ tay lên vai tôi, nói nhỏ:

- Em giỏi quá! Chị nghe trên huyện nói.

Buổi học đầu tiên đến 10:00 giờ mới khai giảng. Như vậy là chúng tôi còn hơn 1 tiếng rảnh rỗi. Tôi kéo nhẹ chị Mai ngồi xuống bên gốc một cây có lá to nhưng không biết là cây gì. Chừng như thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn hàm răng trắng ngà đang đổi sang màu nâu nhạt cùa chị, chị hiểu ý, nói:

- Chị là người Hànội, theo anh tản cư lên đây.

Tôi định la lên nhưng chị kịp đưa tay bịt mồm tôi, tôi nói nhỏ:

- Em cũng là người Hànội… Đúng ra, quê em ờ Gia Lâm, ngay bên kia cầu Long Biên. Em được bố mẹ gửi ra Hànội học.

Chị Mai không nói gì thêm, mắt xa xăm hướng về phía cuối cánh đồng phía Nam như đang nhớ về một dĩ vãng hay một kỷ niệm nào đó. Chị mới 22 tuồi - chị nói với tôi trước đó. Trong giây phút, tôi muốn hỏi chị về tiếng “anh” - “theo anh tản cư lên đây” - nhưng Chót đã ra mời chúng tôi vào lớp học.

Lớp học là căn phòng chính giữa ngôi nhà. Trên bức tường trát vôi vữa với vài chỗ đã loang lở đối diện cửa ra vào, có treo bức hình “Hồ chủ tịch” đóng khung bằng 4 thanh tre màu nâu sẫm. Trong phòng kê 6 chiếc ghế gỗ mộc cũ kỹ chung quanh một chiếc bàn cũng bằng gỗ mộc trơn nhẵn vì đã được dùng đi dùng lại nhiều lần. Chót ngồi ở ghế đầu bàn, chỉ cho 4 học viên chúng tôi ngồi vào 4 chiếc ghế ở 2 bên, ghế cuối bàn bỏ trống. Tôi ngồi đối diện với chị Mai phía cuối bàn, Ngọng ngồi bên trái tôi, đối diện với Hiếng phía đầu bàn.

- Các đồng chí thân mến,...

Chót đứng lên, 2 tay chống trên mặt bàn, ngước mắt nhìn bức hình “Hồ chủ tịch”:

- Nhờ ơn bác, tôi được tiếp đón các bạn hôm nay…

Chót đưa 2 tay vắt tréo sau lưng, bước đi vài bước rồi quay ngoắt lại, nói tiếp:

- Hôm nay là buồi học đầu. Trước khi đi sâu vào khoá học, tôi muốn kể các đồng chí nghe một câu chuyện…

Chót ngừng, rồi với một cử chỉ bất ngờ, thật nhanh, vồ lấy cái bút chì trên mặt bàn trước mặt, giơ lên cao:

- Các đồng chí có biết đây là cái gì không?... Đây là cái bút chì, vâng, đây là cái bút chì, nhưng tại sao người ta lại gọi là cái bút chì mà không gọi bằng cái tên gì khác?

Chót nhấn mạnh từng tiếng một. Tôi ngẩn người không hiểu, đưa mắt nhìn chị Mai. Chị khẽ nháy mắt như ngầm bảo tôi là hãy kiên nhẫn.

Chót nói tiếp một thôi dài, lần này giọng hạ thấp, nhẹ nhàng hơn:

- Vâng, đây là cái bút chì. Người ta gọi như thế vì thấy lõi viết là một chất quặng gọi là chì. Nếu tôi gọi đây là cái bút than thì cũng được bởi vì lõi viết cũng là một chất quặng gọi là than. Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng tôi muốn nhấn mạnh với các đồng chí trong câu chuyện hôm nay là người ta đã đồng ý với nhau gọi như thế, một sự đồng ý có tính cách đương nhiên, không ai thắc mắc vì gọi lâu đã quen rồi. Bây giờ, nếu tôi đi xa hơn một tí, gọi cái bút chì này là… là…

Chót nhìn quanh như tìm kiếm một cái gì:

- Là cái… đinh chẳng hạn thì chắc các đồng chí sẽ cười rộ lên, cho tôi là một thằng khùng! Thái độ của các đồng chí như vậy không có gì sai. Làm sao có thể gọi cái bút chì này là cái đinh được! Nhưng, nếu tôi cứ tiếp tục gọi cái bút chì là cái đinh hết ngày này đến ngày khác, hết tháng này đến tháng khác, hết năm này đến năm khác rồi cũng sẽ có một ngày các đồng chí chẳng để tâm thắc mắc nữa, chẳng còn cho tôi là thằng khùng nữa và, khi đó nếu có ai gọi cái bút chì là cái đinh như tôi thì cũng là chuyện bình thường thôi!

Chót đổi giọng, mạnh hơn:

- Tuyên truyền là bàn đạp tối quan trọng trong công cuộc kháng chiến chống thực dân cứu nước. Người chiến sĩ tuyên truyền phải nói, phải viết làm sao để có thể chuyển hóa được lòng người, đạt được mục tiêu tối hậu cách mạng đã đề ra mà nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...

Tôi hơi sửng sốt nghe câu nói sau cùng của Chót: “nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...”, nhưng phải thú thực rằng cách nói nhát gừng với những khoảng im lặng rồi bất ngờ nói tiếp cũng như cử chỉ diễn đạt và vẻ mặt biến đổi theo câu nói của Chót đã khiến tôi chú tâm và nóng lòng chờ nghe tiếp. Hình như trong tôi, một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, trong trắng, dễ tin, đang bắt đầu nhen nhúm một niềm cảm phục.

Tôi đưa mắt nhìn các học viên khác. Ngọng há hốc mồm ngồi nghe như muốn nuốt từng lời nói của Chót. Hiếng cặm cụi ghi chép không ngừng. Chị Mai vân vê mép tờ giấy trước mặt. Còn tôi…, không biết tôi đang là một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, tác giả bài “luận văn” nổi tiếng hay đang biến thành một chiến sĩ cán bộ tuyên truyền được nhiều người trọng vọng, như chị đoàn trưởng đoàn phụ nữ cứu quốc xã nói? Chị đang hy vọng gì ở tôi?

- Con người là một con vật yếu đuối, luôn luôn bị cái bản năng sinh tồn và tham vọng ngự trị…

Chót tiếp tục nói nhưng tôi không còn nghe và nhớ được điều gì nữa. Tôi cảm thấy khoan khoái khi buổi học tạm kết thúc để rồi tiếp tục vào ngày hôm sau. Ngày hôm sau, Chót sẽ nói gì, tôi sẽ nghe và nhớ được gì?

4 học viên chúng tôi cùng đi chung trên một khoảng đường ngắn trước khi toả ra ai về nhà nấy. Qua vài lời trao đổi, tôi được biết cả 4 học viên chúng tôi đều được các chị phụ nữ cứu quốc địa phương niềm nở tiếp đón và lo nơi ăn chốn ở do lời yêu cầu từ trên huyện. Ngọng hí hửng kể hắn được gửi theo khoá học chính trị này do một thành tích tố cáo ông phó lý trong làng là một địa chủ bóc lột nông dân. Trong khi kể, Ngọng vô tình không giấu được cái đuôi là hắn quyết định tố ông phó lý vì cô con gái của ông không chịu lấy hắn làm chồng. Hiếng thì kể là do đã thuyết phục được dân làng cùng với hắn tháo gỡ gần 500 thước đường rầy xe lửa trong kế hoạch tiêu thổ kháng chiến. Chị Mai chỉ cho biết đang ở với gia đình ông bá hộ Bòng. Ông Bòng đã hiến cho cách mạng cả một kho thóc nên được cách mạng tuyên dương.

thực dân Pháp đang bay đến bắn phá. Không ai bảo ai, mọi người tìm nơi ẩn núp. Tôi nắm tay chị Mai, kéo ra cánh đồng trước mặt:

- Ra bờ ruộng ẩn núp tốt hơn. Mình nhìn thấy máy bay nên dễ né tránh.

Chị Mai và tôi ngồi núp vào một góc bờ ruộng cao, nhìn 2 chiếc máy bay màu xanh thậm bay vòng vòng rồi nhào xuống bắn phá vào một khu ở cuối làng. Có một lúc máy bay hướng về phía chúng tôi, chị Mai đẩy tôi vào phía trong góc bờ ruộng rồi ôm chặt lấy tôi như để che chở. Tôi buột miệng nói với chị Mai:

- Em muốn bỏ về, không học nữa!

Đến lượt chị Mai kéo tôi, lúc thì kéo tôi nằm xuống ẩn núp, lúc thì kéo tôi đứng lên chạy về hướng làng bên cạnh. Chị không nói nên tôi không biết chị nghĩ gì.

Tiếng tù và lại nổi lên nhưng lần này thì nghe đều đều một hồi dài, không có lúc mạnh lúc nhẹ như khi nãy. Khi chị Mai và tôi đến quán nước nơi vệ đường gần cổng làng thì bà chủ quán cũng mới đi ẩn núp về:

- Chả biết có người nào chết không? - Bà chủ quán nói bâng quơ thế thôi chứ không phải nói với chúng tôi.

Chị Mai mua 2 gói xôi đậu đen rồi đưa tay chỉ cây sung nơi bờ ao cách đó chừng 100 thước:

- Chúng ta ra kia ngồi ăn.

Hai chị em chúng tôi (bây giờ thì tôi đã coi chị Mai như là một người chị) ngồi bệt xuống cỏ, cùng dựa lưng vào gốc cây sung, mỗi người hướng về mỗi ngả. Một con ễnh ương màu vàng có đường chỉ xanh trên lưng trố mắt nhìn tôi rồi xoải chân phóng xuống nước.

- Chị chưa nói cho em biết anh là ai, giờ anh đang ở đâu? - Tôi bất ngờ hỏi.

- Ăn đi, ăn xong rồi chị nói, chị chưa ăn sáng nên đang đói đây. - Giọng chị nhẹ nhàng thật dễ thương.

Tôi quay lại nhìn chị. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ thấy trên má chị có một nốt ruồi nhỏ. Đôi mắt chị sâu và sáng, môi dưới dầy và hơi trễ xuống một tí.

- Ăn đi, nhìn gì mà như nhìn con quái vật thế! - Chị mắng tôi.

- Em đang nhìn một bà tiên! - Tôi nói và cảm thấy lòng như ấm lại.

Tôi chợt nhận ra là từ khá lâu nay tôi thiếu vắng cái cử chỉ trìu mến của một người mẹ hay một người chị vì bận học hành và mải mê với những công tác lăng nhăng này nọ.

Tôi vo tròn miếng lá chuối gói nắm xôi vừa ăn xong, ném nghiêng xuống mặt nước ao, chưa kịp hỏi lại thì chị Mai đã nói:

- Gia đình chỉ có anh và chị tản cư lên vùng này. Anh chị đến cư ngụ tại một làng thuộc huyện Bình Xuyên. Trong làng có một bà chủ lò bún mời chị mở chung một quán bán bún riêu. Nói là chung nhưng thực ra chị chỉ là người quán xuyến lo lắng cho quán bún riêu của bà ta thôi. Tuy vậy cuộc sống cũng dễ chịu. Sau khi giúp nhân dân tự vệ trong làng tổ chức thành công một cuộc phòng thủ thụ động và tiêu thổ kháng chiến, anh đuợc tiến cử làm Huyện đội phó Huyện Đội Bộ Dân Quân Du Kích tại một huyện trong tỉnh. Tháng hai đầu năm vừa qua, người ta khuyến dụ anh gia nhập đảng cộng sản, anh không chịu và định tìm đường hồi cư về Hànội thì bất ngờ anh bị bệnh rồi mất…

- Anh mất rồi hả chị? - Tôi choáng váng.

- Anh mất vì bị bệnh thương hàn mà không biết để giữ gìn, kiêng khem, tiếp tục ăn thức ăn nặng nên ruột bi nứt vỡ ra không cứu chữa được. Để thưởng công, người ta gửi chị theo khoá học này. - Chị Mai nói tiếp, giọng nhẹ như hơi thở.

- Chị nói anh chị tính hồi cư về Hànội, sao chị lại còn theo học khoá này? - Tôi thắc mắc.

- Thì cũng là để che mắt thế gian rồi từ từ tính mà thôi. Chị cũng muốn bỏ khoá học này, vì thực chất của khóa học chỉ là để dạy mình… nói dối! - Chị nhìn tôi như dọ hỏi.

Tôi khẽ cúi đầu, nhớ đến câu nói của Chót trong buổi học hôm qua: “nhiều khi không cần phải bận tâm đến cái sự thật ở đằng sau!...” Thế là 2 chị em chúng tôi quyết định bỏ khoá học. Chị Mai bàn với tôi là chị sẽ thu xếp với bà chủ lò bún để 2 chị em chúng tôi tạm cư ngụ ở nhà cô Dậu, một người cháu của bà ấy. Cô Dậu ở làng bên cạnh, cách xa chừng 2 cây số, là một người rất tốt sẽ kín đáo không để lộ tung tích 2 chị em chúng tôi.

Hai chị em chúng tôi đi gần suốt đêm, về gặp bà chủ lò bún. Bà tỏ vẻ hơi ngỡ ngàng nhưng rồi cũng đưa 2 chị em chúng tôi sang nhà cô Dậu. Cô Dậu năm đó khoảng 50 tuổi, chồng mất sớm, ở một mình. Cô có đứa con trai đi công tác đây đó lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Cô Dậu thu xếp cho chị Mai một cái chõng tre để ngủ đêm ngay trong buồng với cô, còn tôi thì giải chiếu ngủ trong căn buồng nhỏ có chứa mấy thứ lặt vặt. Chị Mai khuyên tôi nên tìm cách cho gia đình biết ngay.

Hôm sau, tôi lén về làng tìm cách báo cho gia đình biết. Tôi đến nhà chị Thắm mà không dám về nhà bố mẹ vì sợ bị lộ. Chị Thắm ngạc nhiên khi gặp tôi:

- Sao... cậu lại về, không học nữa à?

Tôi giơ tay ngang miệng ra hiệu cho chị Thắm nhẹ tiếng, kể vắn tắt chị nghe rồi nhờ chị cho gia đình tôi biết là tôi đã bỏ học và đang ở nhà cô Dậu. Tôi cám ơn chị Thắm rồi quay gót sau khi cho chị biết địa chỉ nhà cô Dậu. Nghĩ lại, tôi không biết tại sao tôi lại tin tưởng ở chị Thắm, nói tất cả cho chị biết những gì đã xảy ra. Trước đó tôi chỉ quen biết chị một cách rất sơ sài. Có lẽ đây là vấn đề thuộc về linh tính khó mà giải thích được. Tôi cầu mong chị Thắm sẽ giữ kín việc tôi nhờ, bằng không thì đã chót lỡ rồi, cũng đành thôi.

Cuối tháng đó Pháp mở cuộc hành quân tại vùng gia đình tôi cư ngụ, chị Thắm đến nhà cô Dậu báo cho tôi biết là thầy tôi và một người cháu đã bị bắn chết trong cuộc hành quân này, và anh tôi nhắn tôi phải về gấp để thu xếp một việc quan trọng. Lúc đó anh tôi, hơn tôi 3 tuổi, là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh. Anh là một người có khiếu về hội hoạ, đã nhiều lần chiếm giải nhất về thi làm bích báo nên được tiến cử đảm nhiệm chức vụ này khi anh mới 18 tuổi.

Chị Mai nhất định đòi theo tôi. Có lẽ chị nghĩ rằng để tôi đi một mình thì rất có thể chẳng bao giờ chị sẽ gặp lại tôi nữa. Về đến nhà, tôi được biết bố tôi cùng với em tôi và đứa cháu gọi tôi bằng cậu, vào ẩn núp sau một bụi rậm và bị quân Pháp đứng ngoài thấy động, bắn vào. Bố tôi và đứa cháu bị trúng đạn chết. Em tôi may mắn thoát chết và sau 1975 bị đưa ra Bắc tù đày. Khi ra tù nó và đứa con trai vượt biên thoát sang Mỹ rồi bảo lãnh cho vợ và 2 đứa con gái sang sau.

Anh tôi cho biết người ta mới khuyến dụ anh gia nhập đảng cộng sản nhưng anh không chịu và có thể bị rắc rối. Anh bảo tôi phải thu xếp hồi cư về Hànội ngay.

Cuộc hành trình về đất Mẹ gồm có: Mẹ tôi, vợ chồng người anh với đứa con gái 11 tháng, tôi, em tôi và một vài người bạn gia đình trong đó có chị Mai. Giữa đường anh tôi chết, vì bị thương hàn, không có thuốc men chữa trị, đúng 10 ngày sau khi thầy tôi bị quân Pháp bắn chết. Tôi đã một mình đưa tay móc đất vùi nông thân xác anh ở một nơi góc ruộng mà bây giờ tôi không thể hình dung được là thuộc làng xã nào.

Thế rồi, thời cuộc đưa đẩy, tôi gia nhập trường Võ Bị Liên Quân Đalat, tôi chuyển sang Không Quân, tôi di cư vào Nam, tôi di tản sang Mỹ, tôi bỏ những Ngọng những Hiếng chắc đã bị người ta nhân danh cách mạng biến thành những con vẹt chính trị; những chị Thắm chắc đã bị người ta nhân danh yêu nước tước đi cái vui tươi, hồn nhiên và nhí nhảnh của người con gái Bắc Ninh; và những chị Mai âm thầm, không biết trôi dạt nơi đâu…

Chị Mai ơi, chị đang ở đâu, chị còn sống hay đã theo anh về lòng đất? Dù chị còn sống hay đã theo anh về lòng đất thì khi đứng trước mặt chị hay đứng trước mộ chị, và ngay cả trong lúc này, em vẫn luôn luôn là đứa em bé nhỏ của chị bởi chị là một con người. Không gặp chị, em - một thiếu niên tràn đầy nhiệt huyết, trong trắng, dễ tin - có thể đã không còn là em nữa!

(Tưởng nhớ chị Mai - một ngày đầu đông)

Denver, Colorrado Tháng Tư 2011

* * * * * * * *

Tuesday, March 31, 2020

Gọi Nhớ Bốn Mùa - Z

* Gọi Anh Mùa Xuân - Z (Thơ Trần Mộng Tú - Nhạc Anh Bằng - Tiếng hát Diễm Liên)
* Hạ Trắng - Z (Nhạc Trịnh Công Sơn - Tiếng hát Hạ Vân)
* Em Về Mùa Thu - Z (Nhạc Ngô Thụy Miên - Tiếng hất Minh Châu)
* Tuyết Đông - Z (Thơ Hồng Thúy - Nhạc Quýdenver - Tiếng hát Lâm Dung)

Thursday, February 13, 2020

Khát - Z

Thơ Sơn Ca
Nhạc Phương Phạm
Phương Phạm đàn & hát
pps Quýdenver

Thursday, January 17, 2019

Buồn đến bao giờ - Z

Nhạc Lê Uyên Phương
Tiếng hát Trần Ngọc Tuấn
pps Quýdenver

Wednesday, June 20, 2018

Saturday, December 2, 2017

Tuyết Đông - Z

Thơ: Hồng Thúy
Nhạc: Quýdenver
Hòa âm & Trình bày: Lâm Dung
pps: Quýdenver


Wednesday, November 15, 2017

Tình không trói buộc

Thơ: Quýdenver
Tranh thơ: Kim Oanh



Long Hồ Vĩnh Long:
http://longhovinhlong.blogspot.com/search/label/Qu%C3%BDdenver